Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC GIẢI PHƯƠNG TRÌNH, BẤT PHƯƠNG TRÌNH VÔ TỶ 2. Lĩnh vực áp dụng: Sáng kiến được áp dụng trong lĩnh vực giảng dạy nội dung “Phương trình ” cho đối tượng là học sinh đại trà lớp 10, đồng thời cũng là một phần nội dung ôn thi THPT Quốc gia cho học sinh lớp 12. Thời gian áp dụng: Từ năm học 2009-2010.
Tác giả: Họ và tên: NGUYỄN TRUNG HIẾU Năm sinh: 1979. Nơi thường trú: Xã Xuân Hòa – huyện Xuân Trường , tỉnh Nam Định. Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ khoa học, ngành Lí luận và Phương pháp dạy học (bộ môn Toán). Chức vụ công tác: Giáo viên.
Nơi làm việc: Trường THPT A Hải Hậu. Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Trung Hiếu, Trường THPT – A Hải Hậu, Nam Định. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị: Trường THPT A Hải Hậu. Địa chỉ: Khu 6-Thị trấn Yên Định-Hải Hậu-Nam Định.
Nguyễn Trung Hiếu – THPT A Hải Hậu 1 skkn Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 CÁC CHỮ VIẾT TẮT GV Giáo viên HS Học sinh SGK Sách giáo khoa THPT Trung học phổ thông NL Năng lực MỤC LỤC Nội dung Trang Hoàn cảnh tạo ra sáng kiến…………………………………………… 3 Thực trạng……………………………………………………………. Các giải pháp…………………………………………………… 8 Hiệu quả do sáng kiến mang lại………………………………………. 51 Đề xuất, khuyến nghị…………………………………………………. 51 Danh mục tài liệu tham khảo………………………………………….
HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN Nguyễn Trung Hiếu – THPT A Hải Hậu 2 skkn Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Nội dung kiến thức về phương trình ở lớp 10 THPT là rất quan trọng cho sự phát triển của mỗi HS không những trong quá trình học toán ở bậc phổ thông mà còn “là cơ sở để giải các phương trình liên quan đến các hàm số sơ cấp”, “thuộc về nhóm các kiến thức cơ bản cần thiết nhất trong giáo dục Toán học phổ thông” Trong các kì thi môn Toán ở bậc THPT và kì thi Tuyển sinh vào các trường Đại học – Cao đẳng, chủ đề phương trình luôn chiếm một vị trí đáng kể Các hoạt động chủ yếu với chủ đề này là giải bài tập về phương trình xoay quanh phương trình bậc nhất và bậc hai do đó nó mang một số chức năng sau: - Củng cố và hoàn thiện kỹ năng giải phương trình bậc nhất và bậc hai đã được làm quen từ chương trình THCS - Phát triển năng lực tư duy, hình thành những phẩm chất tư duy khoa học qua các thao tác trí tuệ như là: quy lạ về quen, khái quát hóa, tương tự hóa - Bài tập về phương trình có nhiều ứng dụng thực tế, mang lại niềm vui, hứng thú trong học tập, tạo thế giới quan khoa học - Bài tập về phương trình cũng là phương tiện để đánh giá mức độ, khả năng độc lập trong giải toán và trình độ phát triển của HS Thực tế cho thấy, học sinh thường lĩnh hội tri thức không phải vì giáo viên truyền đạt cho mình một số chân lí mà giáo viên đã biết mà vì chính bản thân học sinh nảy ra nhu cầu muốn biết các tri thức đó. Do vậy, dạy học phải tạo ra cho học sinh tựa hồ như phát hiện ra tri thức cần lĩnh hội Sau khi học lý thuyết, nếu giáo viên giúp học sinh hệ thống kiến thức đã học, xây dựng các hướng phát triển bài tập và tìm phương pháp giải từ đó cung cấp đến học sinh hệ thống bài tập tương ứng thì sẽ giúp học sinh tích cực học tập, rèn luyện kỹ năng và tạo hứng thú, niềm vui khi học sinh tự học. THỰC TRẠNG Về thời lượng dành cho nội dung phương trình nói chung gồm: Tên bài SGK Nâng cao SGK Cơ bản 1. Đại cương về phương 2 tiết 2 tiết trình 2.
Phương trình bậc nhất và 4 tiết Không có bậc hai một ẩn 3. Một số phương trình quy 4 tiết 3 tiết về bậc nhất hoặc bậc hai Ngoài ra còn có 3 tiết luyện tập tổng hợp mà có gắn với nội dung phương trình (tiết ôn tập chương, ôn thi học kì, ôn tập cuối năm) Nguyễn Trung Hiếu – THPT A Hải Hậu 3 skkn Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trong SGK Đại số lớp 10 nâng cao chỉ đưa ra ba dạng cơ bản: và , phần bài tập cũng chỉ nêu những bài tập nằm trong ba dạng này. Tuy nhiên, trong thực tế phương trình và bất phương trình vô tỉ rất đa dạng và phong phú. Trong quá trình học Toán ở lớp 11 và 12, khi gặp phải những bài toán đưa về phương trình và bất phương trình vô tỉ, đa số học sinh đều lúng túng, thường giải sai và thậm chí không biết cách giải.
Đặc biệt, các đề thi Đại học - Cao đẳng các em sẽ gặp phương trình và bất phương trình vô tỉ ở nhiều dạng khác nhau chứ không chỉ nằm trong khuôn khổ ba dạng trên. Vì vậy, việc giúp cho các em có kĩ năng tốt, cũng như cung cấp thêm các phương pháp giải phương trình và bất phương trình vô tỉ là rất cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế hiện nay. Một điều rất quan trọng là trong quá trình giải phương trình và bất phương trình vô tỉ, giáo viên cần phải lưu ý cho học sinh các sai lầm thường mắc phải và phân tích nguyên nhân sai lầm để các em hiểu sâu hơn nhằm có được một bài giải tốt sau này. Với thời lượng và nội dung như vậy, trong quá trình lên lớp, ngoài việc truyền đạt các kiến thức, kỹ năng cơ bản, GV cần rèn luyện cho HS biết hệ thống hóa về các dạng, loại và các phương pháp giải phương trình.
Mỗi dạng bài có một cách giải riêng, cũng có khi một bài có nhiều cách giải do đó GV phải hệ thống và giúp HS chỉ ra cách giải tối ưu. Đồng thời cung cấp cho HS một hệ thống bài tập có chọn lọc để vận dụng những kiến thức đã được học tự mình giải quyết. Đây là cách dạy cho HS cách tự học, tự phát hiện và giải quyết vấn đề, bước đầu rèn luyện tư duy sáng tạo. HS có cái nhìn tổng thể về kiến thức trong chương trình, các dạng bài tập thường gặp.
Ở mỗi dạng bài tập biết hình thành và hệ thống các phương pháp giải, đồng thời qua cách giải bài tập này mở rộng ra các bài tập mới hình thành kỹ năng giải toán và phương pháp tự học mang màu sắc cá nhân. Về khái niệm tự học Để trang bị kiến thức và hiểu biết của mình trong suốt cả cuộc đời thì không có cách gì ngoài tự học. Tự học là một vấn đề có tính truyền thống và tính phổ biến không chỉ ở nước ta mà còn là vấn đề của toàn thế giới. Ngay từ xa xưa, Khổng Tử đã ý thức được tầm quan trọng của việc tự học đối với mỗi con người, ông cho rằng: “cách học quan trọng hơn học cái gì”.
Cha ông ta luôn đặt tự học làm trọng, một tấm gương sáng nhất của tự học là Chủ tịnh Hồ Chí Minh. Theo Người, tự học là sự nỗ lực của bản thân người học, sự làm việc của bản Nguyễn Trung Hiếu – THPT A Hải Hậu 4 skkn Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 thân người học một cách có kế hoạch dựa trên tinh thần tự giác học tập. Người cho rằng, trong học tập phải lấy tự học làm nòng cốt. Như vậy, để sử dụng hình thức tự học, người học chủ yếu phải tự học bằng SGK, các tài liệu học tập liên quan và kế hoạch, điều kiện, phương tiện của mình để đạt được mục tiêu học tập.
Tự học nhiều khi còn là sự chủ động khai thác kinh nghiệm và tri thức của người khác để làm giàu cho vốn hiểu biết của chính bản thân mình. Bản chất của nó là người học biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Tự học có những đặc điểm sau: Tự học có tính độc lập cao và mang đậm màu sắc cá nhân Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học Tự học có tính mục đích Tự học có tính đối tượng Tự học vận hành theo nguyên tắc gián tiếp Tự học là một chu trình liên tục, diễn ra theo hình xoắn ốc mà ở đó điểm kết thúc của chu trình này là điểm khởi đầu của chu trình khác. Sau mỗi chu trình kiến thức của người học lại được nâng lên một tầm mới.
Tự học có các mức độ như sau : Mức độ 1: Có SGK và có GV giáp mặt một số tiết trong ngày, trong tuần. GV và HS nhìn mặt nhau và có thể trao đổi thông tin bằng lời nói trực tiếp, chữ viết trực tiếp ngay trên bảng, trên giấy, bằng ánh mắt, nét mặt, cử chỉ. Bằng hình thức thông tin trực tiếp không qua máy móc, HS học giáp mặt với GV trên lớp và về nhà tự học có hướng dẫn. Đây là mức độ tự học đơn giản nhất.
Mức độ 2: Có SGK và có GV ở xa hướng dẫn bằng tài liệu hoặc các phương tiện viễn thông khác. Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duy, hướng dẫn tự phê bình trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức. Đây là tự học có hướng dẫn. Mức độ 3: Có SGK rồi người học tự đọc lấy mà rút ra kiến thức, kinh nghiệm về tư duy.
HS phải tự mình vận dụng nội lực của bản thân để giải quyết công việc học tập. Đây là tự học ở mức độ cao nhất. Tóm lại, tự học là hoạt động của cá nhân người học. Xác định điều này để ta thấy rõ hơn vai trò chủ động của người học.
Dạy học dù có hay đến đâu cũng không thể thay thế được việc tự học của HS. GV giỏi chính là người biết hướng dẫn cho HS học chứ không phải làm hộ HS. Tự học cũng là công việc khó khăn, phải trải qua nhiều mức độ, nhiều đòi hỏi. Phấn đấu đạt được mức độ tự học cao nhất là mục tiêu cần đạt tới của người học.
Nguyễn Trung Hiếu – THPT A Hải Hậu 5 skkn Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 1. Bồi dưỡng năng lực tự học cho HS THPT Bồi dưỡng năng lực tư học cho HS là việc làm rất cần thiết trong điều kiện hiện nay. Thời gian tự học là lúc HS có điều kiện tự nghiền ngẫm vấn đề học tập theo một yêu cầu, phong cách riêng và với tốc độ thích hợp. Điều đó không những giúp HS nắm vấn đề một cách chắc chắn và bền vững, bồi dưỡng phương pháp học tập và kỹ năng vận dụng tri thức, mà còn là dịp tốt để HS rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động sáng tạo.