CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA VIỆC PHÁT TRIEN NĂNG LUC TU HỌC CHO HỌC SINH THONG QUA DAY HỌC PHAN “CẤU TAO NGUYEN TU”, HÓA HỌC 10 1. Lich sử nghiên cứu vấn dé 1. Trên thế giới Tự học đã được chú trọng và quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau từ rất lâu, ngay cả khi giáo dục chưa trở thành ngành khoa học thực sự. Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, hai nhà giáo dục là Khong Tử và Mạnh Tử đều quan tâm coi trọng suy nghĩ, sáng tạo của HS, dạy học gợi mở dé HS tự lĩnh hội tri thức, đòi hỏi người học phải “ngẫm”, phải tự tìm hiểu.
Trong nền giáo dục phương Tây cổ dai, các nhà giáo dục học như Heraclitus, Socrate, Vistorrino,. đều coi trọng người học, chú trọng phương pháp giảng dạy bằng cách đặt câu hỏi gợi mở gây to mò cho người học tự tìm tòi câu trả lời chứ không chỉ là truyền thụ kiến thức thông thường. Montaigne từng khuyên rằng: “7ó: hon là ông thay dé cho học trò tự học, tự di lên phía trước, nhận xét bước di của họ, đông thời giảm bót tốc độ của thay cho phù hợp với sức học của tro” [32]. Khi giáo dục trở thành một môn khoa học, các nhà giáo dục trên thế giới cũng không ngừng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tự học.
Các nhà giáo dục như J. đều đưa ra các quan điểm chỉ ra rằng việc tự mình giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tìm tòi, suy nghĩ là con đường quan trọng nhất dé chiếm lĩnh tri thức.A Comensky từng nói rang : “Không có khát vọng hoc tập thì không thành tài”[34]. Người học phải có động cơ học tập, y chí vượt khó, năng lực tự tìm tòi, khám pha dé giải quyết được van đề.Người có NLTH là người có động cơ học tập bên bi, biết sắp xếp, định hướng cách giải quyết van dé. Robert Fisher [33] đã đưa ra 10 chiến lược rất hiệu quả trong việc hướng dẫn cách học, đặc biệt là bồi dưỡng NLTH cho HS là: tư duy dé học, đặt câu hỏi, lập kế hoạch, lập dàn ý, vẽ sơ đồ nhận thức, thảo luận, tư duy đa hướng, học tập hợp tác, kèm cặp, xây dựng cộng đồng tự học rất hiệu quả.
Từ những năm 30 của thế kỷ XX, nhiều nhà giáo dục châu Á cũng đã quan tâm đến lĩnh vực tự học và bồi dưỡng NLTH. Nhà sư phạm người Nhật T. Makiguchi đã cho rằng giáo dục chính là quá trình hướng dẫn TH mà động lực của nó là kích thích người hoc sang tạo ra giá tri dé đạt đến hạnh phúc của bản thân và cộng đồng [15]. Thời gian này còn có rất nhiều quan điểm đề cao sự tự chủ, tự học của HS, khuyến khích hình thành và bồi dưỡng NLTH cho HS qua việc chú trọng cá thé hóa, dé HS tự do phát triển theo những năng khiếu riêng biệt như O.
Khi giáo dục ngày càng phát triển, các PPDH tích cực mới được ra đời, các nhà giáo dục học khi sử dụng các phương pháp đó đều dựa trên cơ sở lấy người học làm trung tâm. Một trong các năng lực quan trọng được các nhà giáo dục chú ý chính là năng lực tự học. Dù là áp dụng PPDH nào, dù thực hiện nhiệm vụ theo nhóm hay làm cá nhân mỗi người học có kết quả khác nhau chứng tỏ mỗi người học có NLTH khác nhau. Ở Việt Nam Từ ngàn đời nay, hiếu học vẫn luôn một nét truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
Ngay cả dưới thời kỳ phong kiến, du cho giáo dục chưa phát triển, việc học chỉ danh cho con nhà quan hay khi chiến tranh, việc bảo toàn mạng sống, có miếng cơm manh áo đã là may mắn cho đến khi hoà bình, việc học được chú trọng thì tự học vẫn luôn được chú ý rèn rũa. Bởi thế, không khó khăn để kể tên các nhân tài, các tam gương về tinh thần tự học như Mạc Dinh Chi, Lương Thế Vinh, Nguyễn Hiền, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Ký. Tự học và phát triển năng lực tự học cho HS là một trong những vấn đề được các nhà giáo dục nước ta chú trọng quan tâm. Trong chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ GDĐT, NLTH là một trong các năng lực chung, cần được chú trọng quan tâm hình thành phát triển cho HS ở mọi cấp bậc, mọi độ tuôi.
Trong tuyển tập "Bàn về giáo dục Việt Nam", GS. NGND Nguyễn Cảnh Toàn đã việt một sô quan diém của mình, ông quan niệm “Tu duy và nhân cách quan trọng hơn kiến thức.Người thầy dở là người chỉ đem kiến thức cho học trò, người thầy giỏi là người biết đem đến cho họ cách tự tìm ra kiến thức” [5] Một số các tác giả khác như Thái Duy Tuyên, Lê Công Triêm, Trịnh Quốc Lập, Trần Huy Hoàng. có các công trình nghiên cứu về NLTH đều cho rằng tự học là một trong các phương pháp học tập cơ bản, hiệu quả của người học. Trong các nghiên cứu của mình, các tác giả đều chú trọng đến việc phát triển năng lực tự học cho HS thông qua các biện pháp, các phương tiện khác nhau.
Tác giả Nguyễn Thi Thu Hang nhận định rằng nhờ có năng lực tự học, người học có thé tự khang định bản thân thông qua các thao tác tư duy, ý chí, nghị lực va sự say mê học tập của chính mình. Phát triển NL tự học cho HS sẽ dần hình thành cho các em khả năng tự chủ, năng động và sáng tạo, biết học hỏi và đánh giá, có khả năng so sánh, đối chiếu và xử lí tình huống linh hoạt. Trong quá trình tự học, HS huy động va phát huy tối da NL nội tại của bản thân dưới sự định hướng, tô chức của GV, tự mình nghiên cứu các tải liệu, tham gia các hoạt động tìm tòi, khám phá dé có thé tự đặt van dé, tự giải quyết van dé và tự nghiên cứu. Từ đó, phát huy tính năng động, tự giác và lòng say mê nghiên cứu khoa học trong môn học.
Dạy học định hướng phát triển năng lực 1. Khai niệm năng lực Năng lực có thể được định nghĩa và hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào ngữ cảnh, lĩnh vực, thời điểm cụ thé. Theo từ điển tiếng việt, năng lực là khả năng, diéu kiện chủ quan hoặc tự nhiên săn có đề thực hiện một hoạt động nào do. [14] Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường: “Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tô như trì thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sang hành động và trách nhiệm đạo đức ” [6] Theo chương trình giáo dục phổ thông tong thé, năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tổ chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niêm tin, ÿ chi,.
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thé. [3] Như vậy năng lực là một thuộc tính cá nhân, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, niềm tin, ý chí,.cho phép con người thực hiện thành công một hoạt động nào đó. Năng lực không chỉ gồm những đặc tính bam sinh, mà còn được hình thành và phát triển nhờ quá trình học tập và rèn luyện không ngừng nghỉ của mỗi người. Đặc điểm của năng lực Như đã nói ở trên, năng lực là một thuộc tính cá nhân, phản ánh quá trình học tập, rèn luyện của mỗi người khi thực hiện một hành động nào đó dé đạt được kết quả.
Từ đó, có thể thấy năng lực gồm các đặc điểm sau : Năng lực được tích hợp từ kiến thức, kỹ năng, thái độ [8]. Kiến thức là những hiểu biết, thông tin và nhận thức của một người về thế giới xung quanh. Kiến thức chính là nền tảng cho năng lực. Kỹ năng là khả năng thực hiện các nhiệm vụ hoặc công việc cụ thể một cách hiệu quả và thành thạo.
Thái độ là tư duy và cách tiếp cận công việc. Thái độ tích cực có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng kiến thức và kỹ năng một cách hiệu quả, từ đó phát triển được năng lực. Năng lực thường được áp dụng dé đạt được mục tiêu cụ thể hoặc hoàn thành một nhiệm vụ nhất định, phục vụ một mục đích rõ ràng và có thể đo lường được dựa trên mức độ đạt được thông qua các tiêu chí đánh gia các mục tiêu này.[ 10] Năng lực có thé phat triển được. Năng lực không phải lúc nào cũng ồn định mà có thé được phát triển và điều chỉnh dé đáp ứng các yêu cầu và thách thức thay đổi.
Khả năng thích ứng và phát triển năng lực giúp con người duy trì sự hiệu quả và tạo ra giá trị trong môi trường biến đổi. Cấu trúc của năng lực Có nhiều loại năng lực khác nhau. Cầu trúc chung năng lực được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thé:[8] Hình 1. Mô hình cấu trúc năng lực Năng lực cá thê Năng lực chuyên môn Năng lực xã hội Năng lực phương pháp Năng lực hành động Năng lực chuyên môn[8 là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn.
Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy logic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình. Năng lực phương pháp là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề, bao gồm khả năng xác định và thiết lập kế hoạch chỉ tiết để thực hiện công việc và giải quyết van dé, khả năng đặt mục tiêu và hướng dan công việc theo hướng mục đích cu thé va rõ ràng, khả năng sử dụng các phương pháp hệ thống để giải quyết nhiệm vụ và vấn đề, áp dụng quy trình có kế hoạch để đạt được mục tiêu, xác định ưu tiên công việc và đảm bảo tiến độ được duy trì theo kế hoạch. Năng lực phương pháp giúp con người tổ chức công việc một cách có hệ thống và mục đích hóa hành động. Việc sử dụng phương pháp cụ thé và kế hoạch định hình hành vi làm việc và đảm bao rang các nhiệm vụ và mục tiêu được thực hiện một cách có tổ chức và có hiệu quả [8].