phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực thực nghiệm hóa học cho học sinh trung học phổ thông. Phát triển năng lực thực nghiệm hóa học cho học sinh thông qua dạy học thí nghiệm chƣơng Este - Lipit. Thực nghiệm sƣ phạm.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC NGHIỆM HÓA HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Hóa học là ngành khoa học nghiên cứu về thành phần, cấu trúc, tính chất và sự biến đổi tính chất của các chất; là sự kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết và thực nghiệm. Do đó, việc DHHH có sự kết hợp chặt chẽ giữa học lí thuyết và học thực hành là vô cùng quan trọng. Việc sử dụng TN trong DHHH không những tạo đƣợc hứng thú học tập cho HS, giúp HS khắc sâu kiến thức đã học, mà còn hình thành và phát triển ở HS các NL cần thiết, đặc biệt là NLTNHH.
Đã có nhiều nghiên cứu về sử dụng TN trong DHHH cũng nhƣ NLTN. Các công trình nghiên cứu sử dụng TN trong DHHH: - Lê Thị Thúy (2007), “Phương pháp dạy học qua thí nghiệm trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh Hóa học 10 nâng cao”, Luận văn thạc sĩ sƣ phạm Hóa học, trƣờng Đại học Giáo Dục. Đề tài đã đề xuất phƣơng pháp dạy học các TNHH trong chƣơng Oxi – Lƣu huỳnh. - Ngô Quốc Triệu (2012), “Nâng cao chất lượng sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học phần vô cơ lớp 11 chương trình cở bản trung học phổ thông”, Luận văn thạc sĩ sƣ phạm hóa học, trƣờng Đại học Giáo Dục: Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao chất lƣợng sử dụng TN.
- Nguyễn Thị Trúc Phƣơng (2010), Sử dụng thí nghiệm hóa học để tổ chức hoạt động học tập tích cực cho học sinh lớp 11 trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, trƣờng Đại học Giáo Dục. Luận văn đã nghiên cứu sử dụng TN với mục đích tích cực hóa hoạt động của HS. - Phạm Văn Hoan, Hoàng Đình Xuân (2016), “Phát triển cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thông qua việc sử dụng thí nghiệm Hóa học hữu cơ”, Tạp chí khoa học giáo dục. Đề tài nghiên cứu và sử 5 c dụng các TNHH theo hƣớng nghiên cứu nhằm phát triển cho HS NL vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề.
Bài viết trình bày việc sử dụng một số TN đòi hỏi HS phải có khả năng tƣ duy, vận dụng kiến thức đã học một cách sáng tạo, linh hoạt. - Nguyễn Thị Hƣơng Dung (2015), “Ứng dụng phần mềm Crocodile thiết kế mô hình thí nghiệm ảo trong dạy thực hành thí nghiệm Hóa học”, Tạp chí Khoa học giáo dục. Bài báo đã nghiên cứu cách thiết kế thí nghiệm ảo tạo cơ hội cho HS thể hiện sự chủ động, sáng tạo. - Võ Phƣơng Uyên (2009), “Sử dụng thí nghiệm trong dạy học môn hóa học lớp 10, 11 trường trung học phổ thông tỉnh Dăk Lăk”, luận văn thạc sĩ giáo dục học, trƣờng Đại học Sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh.
Đề tài đã nghiên cứu các phƣơng pháp sử dụng TNHH trong dạy học hóa học. Về phát triển NLTNcho HS: - Nguyễn Thị Kim Ánh, Ông Thị Tuyết Thanh (2018), “Một số biện pháp sử dụng kênh hình trong dạy học phần dẫn xuất Halogen – Ancol- Phenol (Hóa học 11) nhằm phát triển năng lực thực nghiệm cho học sinh”, Tạp chí Khoa học Giáo dục. Đề tài trình bày cơ sở lí luận và một số biện pháp sử dụng kênh hình trong dạy học phần Dẫn xuất Halogen – ancol – phenol nhƣ: hình thành kiến thức mới, luyện tập củng cố kiến thức, thực hành và trong hoạt động ngoại khóa nhằm góp phần rèn luyện và phát triển NLTN cho HS. - Nguyễn Thị Kim Ánh, Nguyễn Ngọc Thúy (2018), “Sử dụng hệ thống bài tập thực hành thí nghiệm phần Phi kim trong dạy học Hóa học nhằm phát triển năng lực thực nghiệm cho học sinh lớp 11” – Tạp chí Khoa học Giáo dục.
Bài báo đã xây dựng hệ thống bài tập thực hành TN phần Phi kim trong dạy học Hóa học để phát triển NLTN cho HS lớp 11. - Nguyễn Thị Liên (2018), “Sử dụng thí nghiệm trong dạy học chương “tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học” nhằm phát triển năng lực thực 6 c nghiệm cho học sinh”, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, trƣờng Đại học Giáo Dục. Luận văn đã nghiên cứu sử dụng TN nhằm phát triển NLTN cho HS trong chƣơng Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học. - Phạm Thị Bích Đào – Đặng Thị Oanh (2017), “Đề xuất cấu trúc và đánh giá năng lực thực nghiệm cho hoc sinh thông qua môn khoa học tự nhiên cấp trung học cở sở”.
Tạp chí khoa học, trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội. Bài báo đã đề xuất cấu trúc, đƣờng phát triển của NLTNvà từ đó đánh giá NLTNcủa HS trung học cơ sở. - Vũ Tiến Tình (2017), “Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học một số khái niệm hóa học cơ bản ở trường trung học cơ sở nhằm phát triển năng lực thực nghiệm cho học sinh”, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, trƣờng đại học Sƣ phạm Hà Nội. Đề tài đã đề xuất biện pháp sử dụng các phƣơng tiện trực quan khi dạy học các khái niệm hóa học cơ bản cấp trung học cơ sở để phát triển NLTN cho HS.
Thông qua việc tìm hiểu các đề tài có cùng hƣớng nghiên cứu, tôi nhận thấy các tác giả chủ yếu nghiên cứu vấn đề đổi mới PPDH và nâng cao hiệu quả sử dụng TN trong DHHH bao gồm các vấn đề: hệ thống các TN trong DHHH, hoàn thiện kĩ thuật và phƣơng pháp tiến hành TN, sử dụng TN để khắc sâu kiến thức, tạo hứng thú học tập cho HS cũng nhƣ nghiên cứu vấn đề sử dụng bài tập có nội dung thực nghiệm để phát triển NLTNHH cho HS, chƣa đi sâu vào phƣơng pháp sử dụng TN để phát triển NLTNHH cho HS. Năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh trung học phổ thông 1. Khái niệm chung về năng lực NL là phạm vi đã đƣợc nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chƣa có khái niệm nhất quán về NL.
Các quan điểm về NL có thể chia thành hai nhóm: 7 c Nhóm quan điểm thứ nhất: NL đƣợc coi là điều kiện tâm lý của cá nhân nhằm thực hiện đạt kết quả cao một hoạt động nhất định. Tiêu biểu cho quan điểm này là X. Nhóm quan điểm thứ hai: NL đƣợc coi là những thuộc tính của cá nhân, bao gồm trong đó cả những thuộc tính tâm lý và cả những thuộc tính giải phẫu sinh lý. Tiêu biểu cho quan điểm này là A.
Trong quá trình nghiên cứu về NL, các tác giả Việt Nam cũng đƣa ra nhiều quan điểm khác nhau về NL. Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn đƣa ra khái niệm NL: NL là sự phù hợp giữa một tổ hợp những thuộc tính của cá nhân với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đƣợc thể hiện ở sự hoàn thành có kết quả tốt đẹp hoạt động ấy. Phạm Minh Hạc lại cho rằng NL là những đặc điểm tâm lí cá nhân đáp ứng đƣợc những yêu cầu của hoạt động nhất định nào đó và là điều kiện để thực hiện có hiệu quả hoạt động đó. Từ các quan niệm trên, NL có thể đƣợc định nghĩa nhƣ sau: NL là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, đáp ứng các yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó đƣợc thực hiện một cách hiệu quả.
Nhƣ vậy, NL không chỉ là những thuộc tính, những đặc điểm nào đó của cá nhân mà nó còn bao gồm cả các thuộc tính tâm lý cũng nhƣ sinh lý. Sự tổ hợp này là sự tổ hợp những thuộc tính tƣơng ứng với những yêu cầu của một hoạt động nhất định và làm cho hoạt động đó đƣợc thực hiện thành công, có kết quả cao. Sự tổ hợp này không phải là sự cộng gộp đơn thuần của các thuộc tính khác nhau, mà đó là kết quả của sự tƣơng tác lẫn nhau giữa các thuộc tính tạo nên một hệ thống cấu trúc chặt chẽ. NL chỉ có thể tồn tại tồn tại trong một hoạt động cụ thể.
Chừng nào cá nhân chƣa hoạt động thì NL của cá nhân đó chƣa đƣợc thể hiện, NL vẫn còn tiềm ẩn. NL chỉ đƣợc thể hiện khi cá nhân hoạt động và đƣợc phát triển trong chính hoạt động ấy. Sự thành công của hoạt động là thang đo để đánh giá NL của ngƣời tạo ra hoạt động ấy. NL 8 c của con ngƣời là kết quả của hoạt động và giao tiếp chứ không phải bẩm sinh, sinh ra đã có.
Tuy nhiên, NL của năng lực con ngƣời đƣợc hình thành và phát triển khi con ngƣời hoạt động và giao tiếp. Do đó, NL là kết quả của hoạt động và giao tiếp chứ không phải không phải là do bẩm sinh. Cấu trúc của năng lực Theo [1], có hai cách tiếp cận cấu trúc của NL: tiếp cận theo nguồn lực hợp thành và tiếp cận theo NL bộ phận. Tiếp cận cấu trúc của NL theo nguồn lực hợp thành: “NL đƣợc hợp thành từ kiến thức, kĩ năng, thái độ với sự thể hiện của chúng trong hoạt động là NL hiểu, NL làm và NL ứng xử.
Đây là quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của NL. Diễn đạt theo cách khác thì đó là mối quan giữa nguồn lực và kết quả hay quan hệ giữa cấu trúc bề mặt và cấu trúc bề sâu của NL” [1]. Cấu trúc của NL theo nguồn lực hợp thành CẤU TRÚC BỀ MẶT (ĐẦU VÀO) Kiến thức Kĩ năng Thái độ NL hiểu NL làm NL ứng xử CẤU TRÚC BỀ SÂU (ĐẦU RA) 9 c Theo sơ đồ cấu trúc này, để hình thành và phát triển NL cho HS thì dạy học không chỉ dừng ở việc cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng, bồi dƣỡng thái độ sống đúng đắn, mà còn phải làm cho các kiến thức sách vở thành hiểu biết thực sự của học sinh, các kĩ năng phải đƣợc thực hành, thái độ sống đƣợc hình thành trong mỗi bài học phải có môi trƣờng, điều kiện để bộc lộ. Tiếp cận cấu trúc NL theo NL bộ phận: mỗi NL sẽ đƣợc phân tích thành các NL bộ phận.
Tiếp theo, các NL bộ phận lại đƣợc chia thành các NL bộ phận ở mức độ thấp hơn đến khi xác định đƣợc các hành vi cụ thể của NL đó.