CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THÍCH ỨNG NGHỀ CỦA SINH VIÊN 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài 1. Nghiên cứu về thích ứng của con người a.
Quan điểm tiếp cận thích ứng của con người dưới góc độ sinh học Người đầu tiên khởi xướng tâm lí học thích ứng là Herbert Spencer (1820-1903), nhà tâm lí học người Anh với tác phẩm “Những nguyên lý tâm lí học” (1895), qua phân tích quá trình thích ứng dựa trên chủ nghĩa thực chứng của A.Comte và học thuyết tiến hóa giống loài của C. Tác giả nghiên cứu qui luật của sự thích ứng tâm lí và cho rằng đó là sự chọn lọc tự nhiên. Tác giả cho rằng: “Cuộc sống là những thích ứng liên tục của các mối quan hệ bên trong với mối quan hệ bên ngoài” [113, tr. Hạn chế của Spencer cho rằng các khái niệm về tiến hóa sinh vật, các quy luật, cơ chế của sự thích nghi của sinh vật về nguyên tắc hoàn toàn đúng với con người.
Tác giả đã không thấy được mặt xã hội trong hoạt động, trong quá trình thích ứng của con người khi đưa ra luận điểm: “Khi chuyển từ động vật lên người, các quá trình thích nghi loài và cá thể chỉ phức tạp thêm về mặt số lượng” Do đó tác giả đã đánh đồng sự thích ứng của con người với sinh vật.Watson, về nguyên tắc, các quy luật và cơ chế thích ứng ở người giống động vật, chỉ khác là môi trường sống của con người có thêm một số yếu tố mới như ngôn ngữ và các quy tắc xã hội. Sự thích ứng ở người có cơ chế và quy luật phức tạp hơn nhưng không có sự khác biệt về chất so với động vật. Do đó, khi nghiên cứu sự thích ứng của con người vẫn phải giữ lại những khái niệm cơ bản của tiến hoá sinh học: thích nghi với môi trường và sống còn, liên kết và phân hóa các chức năng của chúng, kinh nghiệm loài 6 và cá thể… Sự thích ứng của con người chỉ phức tạp hơn của động vật về mặt số lượng [dẫn theo 51]. Quan điểm thích ứng dưới góc độ tâm lí, xã hội Tác giả Piagiet J cho rằng quá trình thích ứng tinh thần cũng tương tự như thích ứng sinh học, cho nên ông dùng những thuật ngữ sinh học để mô tả cơ chế thích ứng tinh thần nhưng với nghĩa rộng, đó là đồng hóa và điều ứng [76, tr.
Trong đó đồng hoá trí tuệ - nhận thức là quá trình não tiếp nhận thông tin từ bên ngoài, xử lý thông tin và biến chúng thành cái có nghĩa cho bản thân trong quá trình thích ứng với môi trường. Điều ứng là quá trình thích nghi của chủ thể với những đòi hỏi đa dạng của môi trường, bằng cách tái lập lại những đặc điểm của khách thể vào cái đã có, qua đó biến đổi sơ đồ đã có, tạo ra sơ đồ mới. Sự cân bằng là sự bù trừ lẫn nhau giữa hai quá trình đồng hoá và điều ứng. để tạo lập được sự thích nghi và phát triển của cơ thể thì cần phải thiết lập được sự cân bằng giữa đồng hoá và điều ứng với nhiều mức độ khác nhau là cân bằng sinh học và cân bằng tâm lý.
Như vậy, theo Piaget J., thích ứng là quá trình kép gồm đồng hoá và điều ứng, trong đó cơ cấu nhận thức của cá nhân được biến đổi cả về chất và phát triển phong phú hơn để cá nhân tiếp thu những kinh nghiệm vốn ban đầu không phù hợp với cơ cấu nhận thức. Quá trình này, về bản chất, tương tự như quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường trong sinh học nhưng ở trình độ cao hơn.Golomstooc khi nghiên cứu về “Sự lựa chọn nghề nghiệp và giáo dục nhân cách cho học sinh”, tác giả đã không sử dụng thuật ngữ “thích ứng” mà sử dụng thuật ngữ “thích hợp” để nói lên sự thích nghi đặc biệt của con người với nghề nghiệp. Trong đó, tác giả nhấn mạnh đến mặt tình cảm của quá trình thích hợp nghề nghiệp và coi đó như là một thuộc tính của nhân cách. Tác giả cho rằng sự thích ứng như là một quá trình lĩnh hội, thâm nhập vào các điều kiện mới.
Đồng thời cũng nêu lên lí thuyết về sự thích ứng nghề nghiệp phù hợp với những tài liệu thực nghiệm của tâm lí học hiện đại. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ mới đề cập tới vấn đề thích hợp nghề nghiệp 7 nói chung chứ chưa đi sâu vào một nghề cụ thể [24]. Như vậy, các tác giả khi nghiên cứu về thích ứng đã đồng nhất thích ứng với thích nghi mà chưa thấy bản chất xã hội của thích ứng con người. Theo tác giả Andreeva D.
nhấn mạnh sự khác nhau giữa thích ứng và xã hội hóa. Thích ứng phản ánh quá trình thích nghi đặc biệt của con người với điều kiện hoạt động mới, là sự thâm nhập của con người vào những điều kiện đó một cách không gượng ép. Xã hội hóa là sự tác động qua lại của xã hội và cá nhân. Như vậy, thích ứng nhấn mạnh vai trò chủ thể của cá nhân với môi trường [1, tr.
Tác giả Pêtơrốpxky A. rất quan tâm đến sự thích ứng xã hội. Tác giả cho rằng: sự thích ứng xã hội là quá trình thích nghi tích cực của cá nhân hoặc tập thể (lớp, nhóm) với các điều kiện vật chất, các tiêu chuẩn và giá trị được xác định của môi trường xã hội. Trong đó cá nhân, tập thể đó phải nắm được các tiêu chuẩn và giá trị của môi trường trong quá trình xã hội hoá, cũng như trong quá trình thay đổi và cải tạo môi trường cho phù hợp với điều kiện và mục đích mới của hoạt động [dẫn theo 67, tr.
Hyman đã nghiên cứu và đưa ra các kết luận về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thích ứng của SV gồm 17 biến thuộc 5 nhóm: Quản lý (ra quyết định, lãnh đạo, hoạch định, tổ chức, quản lý thời gian); nhận thức (giải quyết vấn đề, tư duy phản biện, phân tích), truyền thông (nói, viết), bắt cầu (ngoại ngữ, làm việc đa chức năng, đa văn hóa), tương tác cá nhân (nhóm, thương lượng, xây dựng mạng lưới quan hệ, xã giao) [105,tr. Như vậy, có thể thấy dưới góc độ tâm lí, xã hội khi nghiên cứu về thích ứng các tác giả tuy có những quan điểm khác nhau nhưng đều nhấn mạnh đến vai trò của chủ thể và yếu tố môi trường. Nghiên cứu về thích ứng nghề Ở nước ngoài, nghiên cứu về thích ứng nghề đã được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu [1], [103], [107], [108], [109], [113], [114], [116], [118], [110]. Trong đó có những nghiên cứu đóng vai trò nền tảng về thích ứng nghề.
khi nghiên cứu “Đặc điểm của sự thích ứng xã hội và nghề nghiệp của người SV tốt nghiệp trường sư phạm” đã xây dựng khái niệm thích ứng với những chỉ số đặc trưng cho sự thích ứng nghề nghiệp của SV đã tốt nghiệp trường sư phạm. Theo tác giả: “Thích ứng nghề nghiệp là một quá trình thích nghi của người mới lao động với đặc điểm và điều kiện lao động trong tập thể nhất định”. Tác giả đưa ra bốn chỉ số khách quan và ba chỉ số chủ quan của sự thích ứng nghề nghiệp; bốn chỉ số khách quan: Chất lượng công việc; trình độ tay nghề; uy tín của cá nhân trong tập thể; sự tuân thủ kỷ luật lao động. Ba chỉ số chủ quan: thái độ hài lòng với công việc; điều kiện làm việc; mối quan hệ với người khác trong tập thể.
Tác giả cũng chỉ ra được thời điểm mà sự thích ứng xuất hiện, đó là: “Khi làm quen với những điều kiện mới đó kéo theo những sự tiêu tốn sức lực nhất định”. Những ý kiến đó đã góp phần làm sáng tỏ thêm lí luận về sự thích ứng sự thích ứng, đặc biệt là thích ứng nghề [dẫn theo 83, tr. Các tác giả Rottinghaus, Day và Borgen năm 2005, trong một công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Thích ứng nghề là xu hướng mà mỗi cá nhân đưa ra khả năng của bản thân để xây dựng và điều chỉnh kế hoạch nghề nghiệp của mình, đặc biệt là đối mặt với những tình huống không biết trước. Đề cập đến tiến trình, tầm quan trọng của mối quan hệ giao thoa giữa môi trường làm việc và NL của mỗi cá nhân, nhấn mạnh đến khả năng điều chỉnh và vấn đề mà mỗi cá nhân phải đối mặt, khả năng xoay sở với những vấn đề rắc rối về nghề nghiệp [110].Hesketh có bài viết: “Thích ứng tâm lí nghề để đương đầu với mọi thay đổi” [104] đã đề cập tới việc đào tạo công nghệ mới cho người lao động, tạo điều kiện cho người lao động nhanh chóng thích ứng với những công nghệ đó, hình thành các kĩ năng cần thiết.
Tác giả cho rằng, cần cho người lao động thích ứng với tâm lí nghề để họ sẵn sàng đương đầu với những thay đổi, không chỉ cung cấp cho người lao động tri thức nghề mà điều đặc biệt quan trọng là phải hình thành kĩ năng nghề cho họ. Năm 2005, tác giả Peter Creed, Tracy Fallon, Michell Hood trường Đại học Griffth của Australia đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa thích ứng nghề nghiệp và mối quan tâm về nghề trong giới trẻ [109]. Các tác giả cho rằng: Thích ứng nghề nghiệp có mối quan hệ bên trong và bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác. cho rằng: Thích ứng nghề biểu hiện ở sự sẵn sàng đối mặt với tất cả những công việc có thể dự đoán được và là sự tham gia vào những vị trí nghề nghiệp khác nhau, sự điều chỉnh sao cho phù hợp để đáp ứng được những thay đổi và điều kiện làm việc [111], [112].
Blustein cho rằng khả năng thích ứng nghề nghiệp được hiểu như là sự tự quyết định về nghề, sự tự lựa chọn nghề, tự mong muốn đạt được kết quả nhất định về nghề, tìm kiếm trường học nghề phù hợp với khả năng của mình [102]. Năm 2008, trong cẩm nang tâm lí học do Cartwright & Cooper S.C biên soạn được ấn hành tại Đại học Oxford, Hesketh. B biên soạn chương: “Selection and training for work adjustment and adaptability” (Sự lựa chọn và đào tạo đối với sự thích ứng công việc). Trong nghiên cứu này, các tác giả đề cập đến việc lựa chọn và đào tạo nghề phải chú ý tới khả năng thích nghi của con người và yêu cầu của xã hội [104].
Các công trình nghiên cứu trên các tác giả đã chỉ ra rằng: Thích ứng 10 nghề bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Sự lựa chọn nghề phù hợp với bản thân là yếu tố đầu vào quan trọng trong thích ứng nghề.