Chương 1: Tổng quan về cung cấp điện cảng Đình Vũ Chương 2: Xác định phụ tải tính toán cảng Đình Vũ Chương 3: Thiết kế mạng cao áp cảng Đình Vũ Chương 4: Thiết kế mạng hạ áp cảng Đình Vũ - 1 - Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỂ CUNG CẤP ĐIỆN CẢNG ĐÌNH VŨ 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CẢNG ĐÌNH VŨ. Vận tải biển là ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước nói chung và của Hải Phòng nói riêng. Cảng Đình Vũ là một trong những hải cảng nước sâu có nhiều tiềm năng phát triển lâu dài, có nhiều điều kiện để trở thành một hải cảng lớn của miền bắc và cả nước, cảng nằm trong khu công nghiệp Đình Vũ thuộc phường Đông Hải, quận Hải An.
Cảng là một đơn vị tiêu thụ lượng điện lớn, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Với đặc điểm riêng của mình là vận chuyển, đóng gói, xếp dỡ hàng hoá bằng các hệ thống cần cẩu, cầu trục, các dây chuyền đóng gói. Hoạt động liên tục, kể cả ngày nghỉ, các thiết bị này chỉ hoạt động tốt nếu được cấp một nguồn điện ổn định, đủ công suất cần thiết. Vì vậy ứng với tầm quan trọng này thì yêu cầu đặt ra đối với công tác cấp điện là việc đảm bảo tính liên tục cung cấp điện và đảm bảo được độ tin cậy.
Tuy nhiên cảng Đình Vũ cũng gặp không ít những khó khăn và thách thức như: hải cảng mới được xây dựng trong giai đoạn 1, nên các thiết bị hiện tại của cảng ít, chỉ lắp đặt một trạm biến áp T1 cung cấp điện cho 1 cầu hoạt động bốc xếp, vận chuyển hàng hoá. Do đó, dự kiến trong tương lai ta mở rộng thêm nhiều cầu tàu. Đến năm 2020 Cảng Đình Vũ trở thành một hải cảng nước sâu là bến tin cậy cho các tàu trên dưới 10000 (DWT) cập bến để vận chuyển, bốc xếp hàng hoá để đáp ứng nhu cầu chung về lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy là: 31 triệu tấn lương thực/năm, 2 triệu tấn hải sản/năm, còn với lượng dầu là khoảng 15 ÷ 20 triệu tấn/năm. Hải Phòng với 6 tháng đầu năm 2006 lượng hàng hoá xuất nhập ở các cảng lên đến là 8,1 triệu tấn và sẽ tiếp tục tăng cao.
Việt Nam dự kiến từ năm 2000 đến 2010 sẽ có khoảng 100 hải cảng lớn và nhỏ. Mặt khác do nằm gần ven biển, với sự lên xuống của thủy triều biến động, và chịu ảnh hưởng lớn của các cơn bão, độ ẩm cao trên 80% cho nên đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến các thiết bị, khí cụ điện, cũng như ảnh hưởng đến chất - 2 - lượng hàng hoá bốc xếp và vận chuyển. Do đó đã làm tăng chi phí vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng, giảm tuổi thọ các thiết bị, cũng như tăng vốn đầu tư ban đầu cho cảng. Trong tương lai từ năm 2006 đến 2010 dự định sẽ mở rộng thêm 3 bến cầu, với các cần cẩu, cầu trục, trạm biến áp, tăng cường các bến Container (vì thu nhập của nó tăng cao: như ở Trung Quốc tăng 125%, Đông Nam Á là 17% từ năm 1946 đến năm 2000 và tiếp tục tăng cho các năm tiếp theo), để vận chuyển, đóng gói, xếp dỡ hàng hoá nhanh và hiệu quả.
CƠ CẤU TỔ CHỨC TRUNG TÂM ĐIỆN LỰC CẢNG ĐÌNH VŨ. Trong sơ đồ tổ chức cảng Đình Vũ đứng đầu là giám đốc điều hành với vai trò lãnh đạo chung, là đại diện pháp nhân của cảng, chỉ đạo mọi hoạt động, sản xuất, kinh doanh của cảng và chịu trách nhiệm về toàn bộ kết quả sản xuất, ngoại giao cho cảng. Cảng Đình Vũ gồm 4 khu vực có thể hoạt động riêng biệt với nhau, để đáp ứng thu hút nhiều doanh nghiệp thuê. Mỗi khu vực sẽ đáp ứng nhu cầu bốc xếp và vận chuyển hàng hoá khác nhau.
Như khu vực 1 tập trung vận chuyển, bốc xếp hàng rời, khu vực 2, 3, 4 là khu vực bốc xếp hàng rời và Container. Mỗi khu vực đều có khu vực hành chính và khu vực sản xuất độc lập nhau. Khu vực hành chính bao gồm các phòng ban, phòng kỹ thuật có vai trò điều hành hoạt động cho từng khu vực riêng của mình. Nhưng các khu vực này đều thống nhất và dưới sự chỉ đạo chung của giám đốc điều hành.
* Các phòng ban. + Phòng kỹ thuật: là hệ thống tham mưu thiết kế, sửa chữa, bảo dưỡng, thay thế các thiết bị của cảng. Đảm bảo cho quá trình sản xuất là liên tục. + Phòng kế hoạch: có nhiệm vụ giao dịch, tiếp thị sản phẩm, lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của toàn nhà máy.
+ Phòng kế toán tài vụ: chức năng thu, chi lập chứng từ hoá đơn + Phòng hành chính: có nhiệm vụ tổ chức, quản lý sản xuất và kinh doanh. + Phòng vật tư: với chức năng là tìm nguồn vật tư cho cảng, nhập nguyên vật liệu cung cấp cho cảng, chịu trách nhiệm về giá thành của nguyên nhiên vật liệu.1: Sơ đồ tổ chức của trung tâm điện lực cảng Đình Vũ - 4 - * Đội sửa chữa điện và đội đế Có chức năng lắp đặt mới, sửa chữa các sự cố hỏng hóc liên quan tới đường dây, các hệ thống điện chiếu sáng, điện cho các khu vực phòng ban nằm trong phạm vi các trạm điện. * Bộ phận trực ban: Hoạt động theo ca, mỗi một ca trực có một trực ban, người này có trách nhiệm quản lý hoạt động của các trạm điện, không chỉ người trông coi các trạm mà cả các tổ sửa chữa khi làm việc phải cung cấp đầy đủ các thông tin cho người trực ban, điều này sẽ giúp họ luôn hiểu hết được các vấn đề về trạm cùng với những thay đổi nhỏ nhất để có thể đưa ra những quyết định kịp thời và chính xác.Những vấn đề cung cấp điện cho cảng Nguồn cung cấp điện cho cảng Đình Vũ được lấy từ trạm biến áp liên doanh Đình Vũ. Trạm biến áp này đóng vai trò là trạm biến áp trung gian (có nhiệm vụ nhận điện ở hệ thống điện ở cấp cao áp U=110 -220 kV, xuống cấp trung áp là 22 kV).
Cảng lấy điện từ đường dây trên không 22 kV đi vào, là nguồn cao áp cho cảng. Thông qua các trạm biến áp đặt tại các khu vực biến đổi xuống điện áp thích hợp cho các phụ tải ngoài cảng. Do đó việc thiết kế ta chỉ cần tính toán từ nguồn phía thứ cấp của trạm biến áp liên doanh Đình Vũ đến các trạm biến áp khu vực ở cảng. Cảng Đình Vũ có diện tích là (522,066 X 971,2) m, với bốn cổng vào của cảng nằm trên đường quy hoạch 56,25 m mới, cùng với đường ô tô thành phố đi vào.
Chiều dài mặt bến của cầu tàu là 971,2 m, mỗi khu cầu có chiều dài khác nhau: cầu 1 có chiều dài 260,8 m, cầu 2, cầu 3 và cầu 4 cùng có chiều dài 236,8 m và được phân thành bốn khu vực để phục vụ cho các nhu cầu bốc xếp, vận chuyển hàng hoá khác nhau tại các khu vực này. Bố trí của các khu vực trong cảng Khu vực một: gồm nhà hành chính 11 gian được đặt đầu tiên ngay bên phải vào cổng 1 và phòng cứu hoả dịch vụ. Bên trái cổng vào là khu nhà xe 1 có diện tích là 32x8 m, cổng bảo vệ có diện tích 7,2x5 m, nhà cân điện tử số 1 có diện tích là 15x12m và nhà ăn ca có diện tích là 36x12 m. Khu nhà hành chính 11 gian gồm 2 tầng: Tầng 1 có 8 phòng làm việc, 1 phòng hội trường.
Tầng 2 có 1 phòng giám đốc, 1 phòng hội trường, 7 phòng làm việc. Trước nhà hành chính là hội trường cảng và nhà tập thể thao có diện tích là 30x8,2 m. Trước đó là nhà kho 1 với diện tích 102 x 30 m, trước nó có 5 bãi và các cột đèn pha tương ứng 1, 2, 3, 4, 5 chiếu sáng bãi. Dọc theo đường vào cổng 1 bên trái là: nhà tắm, bể nước, nhà vệ sinh.
Tiếp là khu vực rửa xe, nhà xưởng sửa chữa 1 của cảng với diện tích là 30x15 m, đến trạm biến áp T1 cấp điện cho khu cầu 1, các bãi có diện tích là 91x60 m, khoảng cách các cột đèn chiếu sáng dọc đường vào cảng là 30m. Khu vực hai: gồm nhà 8 gian với diện tích 32x15 m được đặt đầu tiên ngay bên phải vào cổng 2 và nhà cân điện tử số 2 có diện tích là 15x12 m. Trước nó là nhà bảo vệ, nhà để xe 2, đội xe văn phòng giám đốc. Bên trái cổng vào là cửa hàng, nhà ăn ca và bộ phận trực ban.
Trước nhà 8 gian là kho dầu, gara, thủy đội, trung tâm điều độ. Tiếp đến là nhà kho 2, trước nó có: bãi 6, bãi 7 và bãi Container, các cột đèn pha tương ứng 6, 7, 8 chiếu sáng bãi. Dọc theo đường vào cổng 2 bên trái là: nhà tắm, bể nước, nhà wc, nhà xưởng sửa chữa 2 và khu cẫu 2, các bãi 6,7 có diện tích là 91x60 m còn bãi Container có diện tích 173,021x91,452 m. Khoảng cách các cột đèn chiếu sáng dọc đường là 30m.
Khu vực ba: gồm nhà 3 tầng với diện tích 44x15 m được đặt đầu tiên ngay bên phải vào cổng 3 và nhà cân điện tử số 3. Trước nó là nhà bảo vệ, nhà để xe 3, phòng đại lý, trạm xăng. Bên trái cổng vào là cửa hàng, nhà ăn ca và bộ phận trực ban. Trước nhà 3 tầng là bãi ôtô và cột đèn pha 15 chiếu sáng bãi.
Tiếp đến là nhà kho 3,trước nó có: bãi 8, bãi 9 và bãi Container, các cột đèn pha tương ứng 9, 10, 11 chiếu sáng bãi. Dọc theo đường vào cổng 3 bên trái là: nhà tắm, bể nước, nhà wc, nhà xưởng sửa chữa 3, khu cầu 3, có các cột đèn chiếu sáng dọc - 7 - đường. Khu vực bốn: gồm khu văn phòng với diện tích 28x15m được đặt đầu tiên ngay bên phải vào cổng 4 và xưởng đội đế. Trước nó có nhà ăn ca, vận tải thủy, câu lạc bộ thuỷ thủ, hải quan.
Bên trái cổng vào là nhà để xe, bảo vệ, nhà cân điện tử số 4 và bộ phận trực ban. Tiếp đến là nhà kho 4, trước nó có: bãi 13, 14 và bãi Container, các cột đèn pha tương ứng 12, 13, 14 chiếu sáng bãi. Dọc theo đường vào cổng 4 bên trái là: nhà tắm, bể nước, nhà vệ sinh , nhà xưởng sửa chữa 4, khu cầu 4, có các cột đèn chiếu sáng dọc đường. Bốn khu vực có thể được cho thuê và làm hoạt động công việc độc lập nhau.