Mở đầu chương Thần tứ của cuốn sách Văn tâm điêu long, ông viết: “Hình tại nơi sông biển, tâm tại nơi cửa khuyết, đó là nói về thần tứ vậy. Khi cấu tứ văn chương, cái thần bay rất xa. Bởi vậy, lúc lặng lẽ tập trung suy nghĩ, dòng tư duy có thể tiếp xúc tận ngàn năm, khi đổi thay nét mặt ngắm nhìn, thì ánh mắt như thấy được vạn dặm. Ngâm vịnh lên, âm thanh như nhả ngọc phun châu, tưởng tượng nhìn trước mắt như sắc màu mây gió”[38, tr.
Như vậy, tác giả Thần tứ đã đặt ra vấn đề về trí tưởng tượng trong sáng tạo – một vấn đề nhạy cảm, rất khó nắm bắt và lí giải đối với lý luận văn học. Hơn nữa, với việc chỉ ra một số quy luật của năng lực liên tưởng và tưởng tượng, Lưu Hiệp đã đóng góp rất lớn cho nghiên cứu về tính chất đặc thù của tiếp nhận nghệ thuật và có thể xem như một định hướng về phương pháp luận trong dạy học văn. Ở phương Tây, Aristotle, nhà triết học Hy Lạp thời cổ đại là người bàn sớm về vai trò của trí tưởng tượng, ở chương XVII của quyển Nghệ thuật thơ ca cho rằng, khi xây dựng các cốt truyện phải làm thế nào hình dung được 10 chúng thật sinh động ở trước mắt. Theo luận giải của ông: “Nhà thơ cần phải cố gắng hình dung cho mình thấy được cả hoàn cảnh của những nhân vật hành động nữa, vì theo bản chất tự nhiên, những ai tự mình trải qua một nỗi cảm xúc nào đó mới có thể truyền đạt được nổi cảm xúc ấy đúng nhất, chỉ có người nào xúc động mới thực sự làm cho người khác xúc động, và chỉ có người nào phẫn nộ mới làm cho người khác phẫn nộ mà thôi”[2, tr.
Như vậy, từ nhận định này, chúng tôi hiểu rằng, thơ ca là lĩnh vực của những người có tài và những người đam mê, vì những người có tài mới có khả năng hóa thân, nhập vai, và những người đam mê mới có khả năng phấn hứng cao độ. Thành công của tác phẩm trước hết bắt nguồn từ mối quan hệ giữa hình dung và sự trải nghiệm tưởng tượng của nhà thơ, hình dung và tài năng cá nhân. Tư tưởng này của Aristote được giới nghiên cứu lý luận văn học phương Tây tiếp tục phát triển thêm một bước nữa khi bàn về trí tưởng tượng sáng tạo và cấu tứ của tác phẩm. Theo nhóm tác giả này, tưởng tượng là một trong những biện pháp quan trọng nhất để nhà văn xây dựng hình tượng, qua óc tưởng tượng, các hình ảnh mới hiển hiện sống động dưới ngòi bút nhà văn với ngôn ngữ, hành động, với dáng vẻ và nội tâm vô cùng phong phú.
Cùng nhận định như trên, nhiều nhà khoa học khác đã phân tích về năng lực tưởng tượng từ điểm nhìn của lí luận sáng tạo văn học để lượng định về sự bền vững và tầm mức ảnh hưởng bởi cá tính sáng tạo của nhà văn đối với quá trình phát triển văn học. Tiêu biểu là các nghiên cứu của M.Khrapchenko - Viện sĩ Viện Hàn Lâm Khoa học Liên Xô, tác giả đã chỉ ra rằng, trí tưởng tượng và sự tái hiện có thể coi là một dạng năng lực đặc biệt và rất cần thiết đối với quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn. Ông nói: “Trong sự thiết kế tác phẩm văn học, trong những khám phá nghệ thuật mà nhà văn thực hiện, trí tưởng tượng sáng tạo đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Cái chủ yếu trong tài năng nghệ thuật – đó là cái được gọi là sự tái hiện và tưởng tượng sáng tạo”[28, tr.
Rõ ràng, nếu không có trí tưởng tượng thì không thể chế biến một cách sáng tạo những ấn tượng và những điều quan sát được trong cuộc sống 11 thành những hình tượng nghệ thuật độc đáo. Đồng thuận với các quan điểm trên khi lí giải về năng lực sáng tạo của nhà văn, K. Pauxtopxki trong các nghiên cứu của mình đã nhấn mạnh đến yếu tố khai sáng trong nhận thức và tư duy của con người, ông cho rằng, không có tưởng tượng thì không thể khai hoa kết quả, và nơi ấy trí tưởng tượng tưởng tượng sinh ra tất cả. Ông khẳng định: “Nếu trí tưởng tượng tái hiện mất đi con người sẽ không còn là con người"[77, tr.
Chúng tôi cho rằng, các tác giả đã coi trí tưởng tượng và sự tái hiện là những năng lực quan trọng trong sáng tạo của nhà văn, là cội nguồn trong hoạt động sáng tạo của con người và từ đó có thể đoán giải tương lai. (2) Tiếp cận từ quan điểm của phương pháp dạy học Từ bình diện dạy học, cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, thế giới đã bàn nhiều đến khả năng sáng tạo của học sinh, và kỹ thuật sáng tạo được xem là quan trọng nhất trong mọi hoạt động sáng tạo của các em. Kỹ thuật đó, theo tác giả Chu Quang Tiềm được bắt đầu từ những linh cảm, những liên tưởng và tưởng tượng phục hồi, nhằm hồi tưởng lại (tái hiện) những hình ảnh do tri giác thu nhận được trong quá trình đọc tác phẩm. Nhưng những tưởng tượng phục hồi, các linh cảm trực giác đó chưa thể trở thành hoạt động sáng tạo mà học sinh phải trải qua thao tác hệ thống hóa, phân tích và dần dần hình thành những liên tưởng sáng tạo.
Sự liên tưởng và tưởng tượng sáng tạo thường liên quan đến các đặc điểm của chi tiết hay hình ảnh mà các em ấn tượng. Sau đó, lí giải và liên tưởng nó bằng sự nếm trải, từ đó hình thành cách thức lập luận trong việc trình bày hướng lí giải của bản thân, tất cả quy trình đó chính là khâu kỹ thuật trong hoạt động sáng tạo. Tác giả nhấn mạnh: “Tưởng tượng sáng tạo là đem những ý tưởng có tính cách linh hoạt tản mạn dung hợp thành nhất quán và sự dung hòa cho ý tưởng thành nhất quán ấy chính là tình cảm”[92, tr. Chúng tôi nhận thấy, tác giả Chu Quang Tiềm đã xác nhận vai trò đặc biệt quan trọng của năng lực tái hiện, liên tưởng, tưởng tượng trong hoạt động tâm lí, hoạt động sáng tạo của chủ thể người học.
Ở góc độ phương pháp tâm lí sư phạm, các công trình nghiên cứu của tác giả Levitov công bố năm 1970 đã chỉ ra rằng, học sinh cần phải có những 12 biểu tượng về những sự vật không có trong kinh nghiệm cũ của họ, nghĩa là về những sự vật chưa bao giờ được tri giác. Theo ông: “Ngôn ngữ văn học giàu hình ảnh và gợi cảm, nó đòi hỏi học sinh phải dùng tưởng tượng để xây dựng và tái hiện những biểu tượng phù hợp"[32, tr. Như vậy, tác giả đã phân tích các thuộc tính đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật; đồng thời, với việc đề cao vai trò của tái tạo trong xây dựng biểu tượng và lĩnh hội tri thức, tác giả đã xem việc sáng tạo hình tượng như một điều kiện để nâng cao hiệu quả tiếp nhận tác phẩm văn chương của chủ thể người học. Có nhiều điểm gặp gỡ và tương đồng với quan điểm trên, tác giả V.Nhikonxki trong công trình Phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổ thông năm 1978 đã chỉ ra đặc thù của quá trình cảm thụ đọc sách.
Theo ông, bản thân tác phẩm luôn gợi ra bức tranh của cuộc sống bằng năng lực tâm lí của nhà văn, cảm thụ đọc sách được hiểu như một quá trình tái hiện sáng tạo đầy phức tạp trong khi đọc. Tác giả lưu ý: “Cảm thụ đọc sách không phải là sự tổng hợp những tín hiệu về tình cảm, mà là những biểu tượng được tạo nên bằng hoạt động của sự tái hiện do các tín hiệu từ ngôn ngữ tạo ra”[68, tr. Như vậy, cảm thụ văn học về cơ bản có tính sinh động, điều đó yêu cầu người học cần có sự nuôi dưỡng và chắp cánh cho trí tưởng tượng phong phú của mình để gắn kết quá trình cảm thụ với hoạt động tiếp nhận sáng tạo. Cuối thế kỉ XIX, nghiên cứu về phương pháp giảng dạy văn học ngày một chuyên sâu hơn trong việc tìm ra quy luật và bản chất của quá trình tiếp cận tác phẩm của chủ thể học sinh.
Trong đó, cần phải kể đến các nghiên cứu của Z. Ia Rez, cụ thể là trong công trình Phương pháp luận dạy văn học năm 1983, nhà nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, việc kích thích cho các năng lực tâm lí hoạt động, sự đồng sáng tạo của người đọc sẽ giúp lĩnh hội văn bản về mặt lô gíc một cách sâu sắc tính hình tượng. Theo đó, nhiệm vụ quan trọng của người dạy là đánh thức khả năng liên tưởng phong phú, tưởng tượng sáng tạo và sự tái hiện hình tượng một cách chân xác trong tư duy sẽ làm cho sự cảm thụ tác phẩm của họ được phong phú và sâu sắc hơn. Tác giả cho rằng: “Các quan hệ liên tưởng giữ một vai trò hàng đầu trong tư duy nghệ thuật.
Tính 13 đến ý nghĩa của các liên tưởng hình tượng người giáo viên văn sẽ cố gắng liên kết tài liệu lại theo những quy tắc và làm cho học sinh cảm nhận được cả ý niệm lẫn hình tượng của hiện tượng”[82, tr. Có thể nói, tiếp cận TPVC theo hướng vận dụng và phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng là một hướng đi đúng đắn. Như vậy, với đường hướng này, các nhà nghiên cứu đã đưa ra cái nhìn chân xác về bản chất của quá trình giải mã tác phẩm văn học. Tuy nhiên, tác giả luận án nhận thấy, các nghiên cứu trên còn nặng về lí thuyết, chưa bàn luận trực diện về phương pháp cụ thể để phát triển năng lực cho người học ở một thể loại riêng biệt.
Chúng tôi xin kế thừa những thành tựu này để hướng đến phát huy năng lực tiếp nhận, đặc biệt là năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng của học sinh trong quá trình tổ chức dạy học truyện ngắn ở nhà trường phổ thông. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Ở nước ta, các nhà nghiên cứu lí luận văn học, nhà sư phạm Ngữ văn đều rất quan tâm đến năng lực tái hiện, liên tưởng và tưởng tượng trong các hoạt động sáng tạo. (1) Tiếp cận từ quan điểm của lí luận và phê bình văn học Con đường sáng tạo của nhà văn đã được Hoàng Trinh bàn đến trong cuốn Văn học cuộc sống nhà văn năm 1978, trong công trình này, người viết đã chỉ ra tầm quan trọng của trí tưởng tượng trong sáng tạo nghệ thuật, nó tham gia vào tất cả các khâu và trải qua các bước khác nhau.