CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC QUẢN LÝ DỰ ÁN 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến năng lực quản lý dự án trong và ngoài nước 1. Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài Quản lý dự án (QLDA) đã và đang đóng vai trò thiết yếu xuyên suốt quá trình phát triển của xã hội loài người. Theo Horine (2009), trên toàn cầu, năng lực quản lý dự án (NL QLDA) đang ngày càng trở thành một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng và đáng chú ý, đặc biệt trong quản trị nhân lực và kinh doanh.
Ý thức của các doanh nghiệp (DN) về tầm quan trọng của NL QLDA đã thực sự diễn ra mạnh mẽ vào đầu thập niên 1950, trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, khi các hoạt động kinh tế đạt đến đỉnh cao của sự phát triển (Stephen K. Khi đó, do các DN đã đạt đến một giai đoạn phát triển nhất định, việc áp dụng các phương pháp tiêu chuẩn trong khi QLDA là cần thiết để đảm bảo quản lý hiệu quả các dự án của họ (Kerzner H. Cuối những năm 1960 và 1970 là thời điểm mà những nghiên cứu về NL QLDA bắt đầu phát triển mạnh mẽ, bao gồm việc thành lập các cơ quan chuyên môn và xây dựng các bộ tiêu chuẩn cụ thể nhằm nâng cao chất lượng của công tác QLDA (Stephen K. Việc áp dụng các nguyên tắc và phương pháp QLDA tiêu chuẩn giúp tối ưu hóa việc phân công và theo dõi công việc, đảm bảo sự tuân thủ tiến độ và sử dụng hiệu quả nguồn lực.
Đến thập niên 1980, QLDA đã trở thành một chủ đề toàn cầu, được định hình bởi các tiêu chuẩn quốc tế độc lập, không chỉ tập trung vào tổ chức dự án mà còn vào quản lý rủi ro và ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài (Turner, J. Sự thành công của các dự án được xây dựng trên cơ sở các nhà lãnh đạo và QLDA áp dụng những phương pháp, nguyên tắc, quy trình, công cụ và kỹ thuật QLDA vào công việc của họ (PMI, 2017). 5 Công tác QLDA đặt trọng tâm vào yếu tố con người, bởi vì điều quan trọng đối với người QLDA là phải sở hữu những kỹ năng cho phép tương tác và làm việc hiệu quả với người khác (PMI, 2017). Theo Kerzner (2018), các DN đang quản lý hoạt động kinh doanh của họ dựa trên những dự án.
Ngày nay, có nhiều nghiên cứu đánh giá sâu về tầm quan trọng của NL QLDA cũng như tìm hiểu cách mà các DN có thể nâng cao năng lực này để đảm bảo thành công trong việc thực hiện các dự án. Đa số các nghiên cứu tại nước ngoài tập trung vào các khía cạnh khác nhau của NL QLDA như sau: 1. Nghiên cứu các yếu tố quyết định thành công của dự án: Theo Kim Heldman (2011, trang 92): “Một dự án được coi là thành công khi thành phẩm cuối cùng hoặc yêu cầu của dự án đã hoàn thành, chẳng những vậy chúng phải hoàn thành một cách chính xác, mới có thể coi là thành công”. Cùng với đó, theo quan điểm của một số học giả, người CBQL đạt đến sự hoàn thiện (Maturity) về NL QLDA sẽ dễ dẫn đến thành công cho dự án, quan điểm này đã thu hút nhiều sự chú ý từ các học giả dẫn đến việc tiến hành nhiều nghiên cứu để đánh giá mối quan hệ giữa hai khái niệm này (Manunga, 2020; Ozorhon, B.
Nhiều nghiên cứu tập trung vào việc phân tích và định rõ các yếu tố năng lực có ảnh hưởng đến sự thành công hoặc thất bại của các dự án (Radujković, M. Những yếu tố này đóng vai trò quyết định trong việc xác định sự thành công hay thất bại. Nghiên cứu các phương pháp, kỹ thuật và công cụ QLDA: Rất nhiều DN cho rằng thật sự cần thiết khi áp dụng nhiều thay vì chỉ một phương pháp QLDA vào các dự án của họ (Kerzner H. Nhiều nghiên cứu tập trung vào việc tìm hiểu và đánh giá sự hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp và công cụ QLDA như: ‐ Phương pháp Agile quản lý theo nguyên tắc phân đoạn vòng lặp và tăng trưởng (Chin, 2004; Hoda, R.
‐ Kỹ thuật ước lượng và đánh giá chương trình/dự án PERT dùng để quản lý các hoạt động không chắc chắn trong dự án, được sử dụng khi người lập kế hoạch nghi ngờ về tính chính xác của các ước tính thời gian hoàn thành nhiệm vụ (Lock, 2007; Mazlum, M. 6 ‐ Phương pháp quản lý bằng mô hình Waterfall dựa trên quy trình làm việc lần lượt và nối tiếp nhau (Thesing, T. ‐ Phương pháp đường găng hay phương pháp đường tới hạn CPM được sử dụng để phân tích cơ sở cho việc thành công của dự án và ước tính thời gian tối thiểu hoàn thành (PMI, 2017; Bagshaw, 2021). ‐ Công cụ Microsoft Project giúp các nhà QLDA lập kế hoạch, phân phối nguồn lực, theo dõi tiến độ và phân tích khối lượng công việc (Deshmukh, S.
Nghiên cứu về tổ chức và quản lý nhóm dự án: Nguyên tắc tất yếu đối với người QLDA là phải đảm bảo những cá nhân có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ cụ thể cần phải tham gia và đóng góp vào quá trình lập kế hoạch (Lewis, 2007). Đã có nhiều nghiên cứu về khía cạnh này tập trung vào việc khám phá cách xây dựng và quản lý nhóm dự án một cách hiệu quả, từ việc thúc đẩy động lực cho các thành viên đến việc giải quyết hiệu quả các xung đột nảy sinh (Smith, K., 2004; Wong, 2007; De los Ríos Carmenado, 2012). Sự đa dạng và biến đổi không ngừng của các ngành công nghiệp đã làm nổi bật sự quan trọng và cần thiết của việc tạo ra những nhóm dự án có năng lực, trong đó người chịu trách nhiệm QLDA đóng vai trò cốt yếu khiến dự án thành công (Ozorhon, B. Tuy nhiên, điều tiềm ẩn quan trọng mà các nghiên cứu trên cho thấy là việc áp dụng các khái niệm và phương pháp không phải lúc nào cũng dễ dàng và hiệu quả trong bối cảnh và văn hóa DN của từng quốc gia.
Thực tế nhiều nhà khoa học cho rằng việc điều chỉnh những nguyên tắc và cách thức QLDA sao cho phù hợp với tình hình cụ thể của môi trường DN ở nước sở tại là điều cần thiết (Stuckenbruck, L. Tổng quan các nghiên cứu trong nước Trong bối cảnh sự phát triển và ứng dụng của NL QLDA trên toàn cầu, Việt Nam đã bước vào một giai đoạn đầy triển vọng với sự tăng cường quan tâm và nghiên cứu về lĩnh vực này (Trần, T. Theo Bùi Ngọc Toàn (2008, trang 9): “Kinh nghiệm từ Đức, Nhật, Hàn Quốc, Mỹ và nhiều quốc gia phát triển khác cho thấy rằng các phương pháp QLDA là phương thuốc hiệu nghiệm giúp nước ta thoát ra khỏi khó khăn kinh tế, là phương pháp tốt nhất giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội lớn đặt ra trong từng thời kỳ”. Kết quả của nhiều nghiên cứu cũng chỉ rõ rằng, những yếu tố quan trọng cần thiết phải được các CBQL cũng như các tổ chức tập trung vào bao gồm việc lập kế hoạch dự án, xây dựng năng lực của nhân sự, xác định nhiệm vụ dự án, khả năng giải quyết vấn đề, thực hiện công việc kỹ thuật, duy trì truyền thông, sự hỗ trợ từ các cấp quản lý cao cấp, và lắng nghe ý kiến của khách hàng (Từ Quang Phương, 2014; Nguyễn Thúy Quỳnh Loan, Nguyễn Vương Chí, Nguyễn Trần Quốc Khanh, 2019).
Với sự tăng cường này, nước ta đang thể hiện cam kết mạnh mẽ đối với việc phát triển bền vững thông qua QLDA. Thách thức lớn nhất của các nhà quản lý trong quản lý và tổ chức dự án là sự phức tạp và không thể đoán trước của các dự án (Bùi Thị Minh Thu, Phan Thị Yến Lai, 2020). Nhiều DN nhận ra rằng QLDA rất quan trọng đối với tăng trưởng kinh doanh và tạo ra lợi thế cạnh tranh (Nguyễn Thúy Quỳnh Loan, Nguyễn Vương Chí, 2022). Một số hướng nghiên cứu chính thường thấy về năng lực này gồm: 1.
Nghiên cứu về thực trạng NL QLDA tại các DN: Cán bộ trong QLDA có vai trò chủ chốt trong việc xác định các mục đích và mục tiêu, xây dựng các kế hoạch dự án, đảm bảo dự án được thực hiện có hiệu lực và hiệu quả (Viện CNTT - ĐHQG Hà Nội, 2007). Tuy NL QLDA được quan tâm và cải thiện bằng cách cung cấp thước đo tam giác sắt để đo lường phạm vi, chi phí và thời gian, nhưng thực trạng hiện tại cho thấy, việc đáp ứng các lợi ích mong muốn của dự án và đảm bảo mức độ thành công vẫn gặp khó khăn do thiếu trách nhiệm giải trình cá nhân, khả năng đo lường lợi ích phát sinh trong tương lai cũng như người phụ trách QLDA thiếu kiến thức chuyên môn về QLDA (Phạm Thị Tình Thương, Bùi Văn Tuyên, 2022). Nghiên cứu về những thách thức: Dự án thường có rủi ro cao trong giai đoạn đầu hình thành và trong suốt vòng đời của dự án, nhiều khâu công việc cũng có mức độ rủi ro rất cao nên người QLDA cần phải có khả năng xem xét, phân tích, lựa chọn các giải pháp phù hợp nhằm giảm bớt và loại trừ chúng (Từ Quang Phương, 2014). “Việc một dự án ngừng sản xuất, chậm tiến độ, tăng ngân sách sẽ gây nhiều hệ lụy về mặt tài chính, lao động,.
cho tổ chức nói riêng và cho nền kinh tế và xã hội nói chung” (Nguyễn Thúy Quỳnh Loan, Nguyễn Vương Chí, Nguyễn Trần Quốc Khanh, 2019, trang 17). Các dự án thường bị giới hạn về mặt nhân lực, chi phí và nguồn lực nên cần phải thực hiện QLDA hiệu quả để hoàn thành mục tiêu đề ra với kết quả tốt nhất (Tin, T. Nghiên cứu về các thành công và thất bại: Trong quá trình thực hiện dự án, việc xảy ra các vấn đề ngoài ý muốn là điều không thể tránh khỏi và khi đó khả năng giải quyết vấn đề của các thành viên trong nhóm dự án sẽ quyết định sự thành công hay thất bại của dự án (Nguyễn Thúy Quỳnh Loan, Nguyễn Vương Chí, Nguyễn Trần Quốc Khanh, 2019). Với đặc điểm thời gian kéo dài, khối lượng công việc lớn và nhiều đầu việc, QLDA là một công việc phức tạp (Huỳnh Quốc Bình, 2023).
Nhiều nghiên cứu đã phân tích các trường hợp nơi DN Việt Nam phát triển NL QLDA thành công và tạo ra những dự án đáng chú ý. Tổng quan, các nghiên cứu trong nước đã đóng góp quý báu vào việc hiểu rõ hơn về tình hình NL QLDA tại Việt Nam và là nguồn thông tin quý cho các DN, tổ chức và chính phủ trong việc định hình các chiến lược và chính sách liên quan đến QLDA và phát triển năng lực. Các khái niệm cơ bản của nghiên cứu 1.