phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các công trình NC, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án đƣợc chia thành 3 chƣơng gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục cho sinh viên Đại học Sƣ phạm Chƣơng 2: Thực trạng phát triển năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục cho sinh viên Đại học Sƣ phạm Chƣơng 3: Biện pháp phát triển năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục cho sinh viên Đại học Sƣ phạm và thực nghiệm sƣ phạm 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƢ PHẠM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Những NC liên quan đến phát triển năng lực nghiên cứu KHGD cho sinh viên ĐHSP tập trung vào 2 hƣớng NC cơ bản, đó là nghiên cứu về năng lực NC khoa học của SV và NC về phát triển năng lực nghiên cứu KHGD cho sinh viên ĐHSP. Những nghiên cứu về năng lực nghiên cứu khoa học của sinh viên Trên thế giới Nhấn mạnh hiệu quả của năng lực đối với hoạt động học tập của ngƣời học, các tác giả Liên Xô nhƣ A.Gôlubev đã đề cập đến năng lực NC nhƣ là hệ thống tri thức giúp cho kết quả học tập của học sinh cao hơn. Trong tác phẩm “Giáo dục học” của T.
Ilina (1978); và công trình “Làm thế nào để phát huy tính tích cực học tập của học sinh” của I. Kharlamop (1979) cũng đã đề cập đến yếu tố năng lực góp phần nâng cao kết quả học tập của học sinh. Ngoài ra các NC cụ thể hơn về năng lực nhƣ NC về năng lực lao động, năng lực sƣ phạm, năng lực giao tiếp, năng lực ứng xử của Đ. Đavƣdop lại nhấn mạnh các kĩ năng, kĩ xảo thực hiện hoạt động sẽ quyết định kết quả học tập.
Năng lực phải đƣợc thể hiện thông qua hoạt động, đƣợc cá nhân tích cực thực hiện nhiều lần trong các tình huống khác nhau, đƣợc kiểm tra và điều chỉnh [Dẫn theo 64, tr 18-20]. Tổ chức UNESCO đề cập đến năng lực thực hiện hoạt động giáo dục là năng lực giúp nhà giáo dục thành công trong quá trình dạy và học, do đó đào tạo theo năng lực đồng nghĩa với việc đảm bảo kết quả giáo dục, trong đó chú trọng năng lực NC của ngƣời học. Năng lực thực hiện NC là tiêu chí để đánh giá kết quả học tập cũng nhƣ lựa chọn lao động trong nghề nghiệp tƣơng lai [113]. 10 Tổ chức OECD đã xây dựng một chƣơng trình xác định năng lực trong thế kỉ 21 và khẳng định mỗi học sinh cần có các năng lực cốt lõi nhƣ năng lực tự bồi dƣỡng, tự tìm tòi NC để mở rộng hiểu biết của bản thân.
Do đó các nhà trƣờng, các trƣờng đại học phải thống nhất mục tiêu giáo dục sao cho phù hợp với yêu cầu của xã hội và khả năng của mỗi cá nhân [102]. Một số NC đề cập đến vai trò, ý nghĩa của năng lực NC khoa học đối với sự thành công trong hoạt động của cá nhân và mang lại lợi ích cho cộng đồng. Tại Mĩ, năm 2002, trung tâm NC quốc gia (National Research Center-NRC) đã thiết kế và xây dựng một chƣơng trình kết nối giữa NC khoa học và cải thiện chất lƣợng giáo dục của quốc gia nhằm hiện thực hóa mục tiêu giáo dục. Chƣơng trình khẳng định năng lực NC khoa học phải đƣợc chú trọng giảng dạy trong mọi bậc học nhằm cải thiện chƣơng trình dạy học lí thuyết, hỗ trợ những cải cách giáo dục và hƣớng đến giải quyết các tồn tại của thực tiễn.
Giáo viên và học sinh cần hiểu vai trò của năng lực NC khoa học với việc giải quyết vấn đề giáo dục của bản thân, từ đó phối hợp, hỗ trợ và thúc đẩy chéo giữa các nhà trƣờng trong NC và ứng dụng giáo dục [95]. Viện Nghiên cứu Khoa học Giáo dục Hoa Kỳ (Institute of Education Science-IES) cũng NC tầm ảnh hƣởng của năng lực nghiên cứu KHGD với sự phát triển của xã hội và khẳng định mỗi nhà giáo dục phải có năng lực NC, có hiểu biết sâu về lĩnh vực giáo dục, có năng lực khai thác thông tin để giải quyết vấn đề, đặc biệt là năng lực tự học, tự NC [89]. Tại Anh và Úc những nghiên cứu khoa học ở các trƣờng đại học đƣợc chính phủ coi trọng, đƣợc đầu tƣ kinh phí rất lớn, đặc biệt là những NC của SV, nhằm hình thành năng lực phát triển nghề nghiệp cho ngƣời lao động tƣơng lai, điều này đã khuyến khích nhiều công trình NC có chất lƣợng của SV trong những năm gần đây [82], [83]. Nhiều NC khác lại đề cập đến cấu trúc, nội dung, yêu cầu của năng lực nghiên cứu nhƣ NC của Coate, K.
[93], Hameda Suwaed [97], Sandra Jones [106]… Những NC này khẳng định ngƣời NC phải có những năng lực phù hợp để đáp ứng yêu cầu hoạt động. Các tác giả cũng đề cập đến năng lực cần thiết nhất ở ngƣời NC là năng lực PP, năng lực thực hiện NC theo logic chặt chẽ, có phản biện, có đánh giá và đƣợc kiểm nghiệm. Theo tác giả John Taylor, năng lực NC của cá nhân thể hiện trong hoạt động cụ thể, bao gồm các kĩ năng, thái độ và giá trị, đƣợc phát triển trƣớc hết thông qua luyện tập NC trong các chƣơng trình, các khóa đào tạo phù hợp [109]. Towne đề cập đến các PP nghiên cứu trong giáo dục và cho rằng năng lực NC khoa học là sự gắn kết giữa tri thức, kinh nghiệm với kĩ năng thực hiện để hoàn thiện hệ thống tri thức PP trong lĩnh vực NC, từ đó làm phong phú hơn hệ thống kinh nghiệm của cá nhân [105].
Tác giả Gary Anderson và Nancy Arsenault trong cuốn “Fundamentals of Educational Research” đề cập đến các nguyên tắc cơ bản trong nghiên cứu KHGD, các nguyên tắc này đƣợc tác giả nhấn mạnh là đặc biệt có ý nghĩa đối với SV, những ngƣời đang tập làm nhà NC [96]. Judith Bell đề cập đến những điều mà ngƣời NC lần đầu trong giáo dục cần chú ý nhƣ xác định vấn đề, tìm kiếm các biện pháp cải hiện thực tiễn giáo dục không chỉ nhằm phục vụ quá trình NC mà còn phải hƣớng đến phục vụ lợi ích cộng đồng. Do đó các nhà trƣờng phải trang bị kĩ lƣỡng cho SV những yêu cầu này để các NC giáo dục có ý nghĩa thiết thực hơn [99]. Các tác giả khác nhau đã đi sâu NC nhiều góc độ, khía cạnh của năng lực nghiên cứu KHGD của SV nhƣ vai trò, ý nghĩa, cấu trúc, nội dung năng lực nhƣng chƣa có NC nào đề cập sâu đến các tiêu chí đánh giá cũng nhƣ xây dựng quy trình đánh giá các năng lực này.
12 Ở Việt Nam Các tác giả Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành có những NC về năng lực hoạt động, năng lực học tập của cá nhân và cho rằng năng lực vừa là điều kiện của hoạt động, vừa là kết quả của hoạt động do đó để phát triển năng lực cho con ngƣời cần thực hiện thông qua hoạt động [27], [79]. Tác giả Lê Đình Trung và Nguyễn Viết Thịnh nghiên cứu về vai trò của NC khoa học với việc nâng cao chất lƣợng đào tạo giáo viên, từ đó gợi ý xây dựng các giải pháp có tính định hƣớng nhằm tăng cƣờng phát triển mối quan hệ giữa hoạt động NC khoa học gắn liền với nâng cao chất lƣợng đào tạo giáo viên ở trƣờng ĐHSP [72]. Đánh giá năng lực trong hoạt động học tập, tác giả Nguyễn Thị Kim Dung cho rằng, năng lực của SV phải gắn với quá trình đào tạo nghề nghiệp, do đó giảng dạy phải chú ý đến việc định hƣớng nghề nghiệp. Sinh viên đƣợc trang bị hệ thống các năng lực cốt lõi để có thể tự học, tự NC và hoàn thiện bản thân; GV phải là ngƣời định hƣớng, tổ chức các hoạt động học tập và NC phù hợp để nâng cao năng lực học tập nói chung và năng lực NC nói riêng.
Tác giả cũng đề cập đến những yêu cầu về năng lực thực hiện và vận dụng vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn trong đào tạo giáo viên, từ đó đề xuất khung năng lực nghề cần thiết cho SV sƣ phạm [16]. Tác giả Lê Thị Thanh Chung đã đề cập đến các kĩ năng nghiên cứu KHGD của SV, nhấn mạnh các yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hiện các kĩ năng cũng nhƣ kết qủa học tập của SV [13]. Tác giả Đặng Bá Lãm cho rằng thực tế hoạt động NC khoa học ở các trƣờng đại học nƣớc ta chƣa đƣợc đánh giá đúng với vai trò và vị thế, năng lực NC của GV và SV đƣợc coi là yếu so với bối cảnh phát triển xã hội và khu vực hiện nay. Để cải thiện thực trạng này, cần chú trọng bồi dƣỡng năng lực NC khoa học của SV- những ngƣời thầy tƣơng lai; cần đặt năng lực đặc thù này đúng vị trí trọng yếu của nó trong quá trình đào tạo ở các trƣờng ĐHSP [38].
13 Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hồng đề cập đến vai trò của bồi dƣỡng năng lực dạy học góp phần tạo ra môi trƣờng tự NC, tự bồi dƣỡng thƣờng xuyên cho GV trong các nhà trƣờng, qua đó khẳng định vai trò của năng lực NC đối với quá trình đào tạo [29]. Tác giả Mỵ Giang Sơn đề cập đến các kĩ năng nghiên cứu KHGD đặc thù nhƣ chọn đề tài đúng chuyên ngành, xác định cách tiếp cận NC phù hợp sẽ giúp ngƣời NC có định hƣớng tốt trong NC, nhất quán trong phân tích vấn đề, từ đó dần hình thành và nâng cao năng lực nghiên cứu KHGD [57] [58]. Tác giả Trần Thị Tuyết Mai nghiên cứu tính tích cực NC khoa học của SV và khẳng định, tính chủ động, tính tự giác, tính tự tin và kết quả NC là những biểu hiện của phẩm chất, năng lực NC cần hình thành và rèn luyện cho SV [41]. Tác giả Nguyễn Hoàng Đoan Huy và Tạ Thị Thu Hiên nghiên cứu vai trò của năng lực nghiên cứu KHGD của ngƣời GV và khẳng định vị thế đặc biệt quan trọng của năng lực này.
Tuy nhiên hiện nay ở các nhà trƣờng, năng lực NC khoa học còn chƣa đƣợc chú ý, công tác bồi dƣỡng năng lực NC đang còn bỏ ngỏ, do đó các nhà quản lí cần chú ý phát triển năng lực NC cho đội ngũ giáo viên [34]. Ngoài ra nhiều tác giả đã đề cập đến thực trạng năng lực NC khoa học của SV nhƣ Hoàng Thị Nhị Hà [26], Trần Ngọc Thảo Nguyên [47]; nghiên cứu động cơ, điều kiện nghiên cứu của Nguyễn Văn Bắc [2], Nguyễn Thị Thu Hồng [30], Nguyễn Vĩnh Khƣơng [36].