Luận án xây dựng và sử dụng thí nghiệm trong dạy học chương dõng điện trong các môi trường vật lí 11 nhằm phát triển năng lực khoa học cho học sinh trung học phổ thông

Tài liệu nghiên cứu Luận án xây dựng và sử dụng thí nghiệm trong dạy học chương dõng điện trong các môi trường vật lí, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Trung học Phổ thông

Chuyên ngành

Vật lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án

2018

182
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KHOA HỌC CHO HỌC SINH

1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

3. CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC KIẾN THỨC VỀ “DÒNG ĐIỆN TRONG KIM LOẠI VÀ CHẤT BÁN DẪN” NHẰM PHÁT TRIỂN NLKH CHO HỌC SINH

4. CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phát triển năng lực khoa học

Năng lực khoa học của học sinh đã trở thành một vấn đề quan trọng trong giáo dục hiện đại. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và những thách thức lớn như cung cấp nước, thực phẩm, và kiểm soát bệnh tật, việc trang bị kiến thức khoa học cho học sinh là cần thiết. Theo Ủy ban châu Âu, việc hình thành năng lực khoa học không chỉ giúp học sinh đưa ra quyết định đúng đắn mà còn nâng cao nhận thức về tác động của khoa học và công nghệ đến cuộc sống. Điều này nhấn mạnh vai trò của năng lực khoa học trong việc phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề cho học sinh. Nghị quyết số 29-NQ/TW đã chỉ rõ rằng giáo dục cần đổi mới để phát triển năng lực và phẩm chất người học, từ đó khuyến khích việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn.

1.1. Tầm quan trọng của năng lực khoa học

Năng lực khoa học không chỉ là kiến thức mà còn là khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Học sinh cần có khả năng phân tích, đánh giá và đưa ra quyết định dựa trên thông tin khoa học. Việc phát triển năng lực khoa học giúp học sinh tự tin hơn trong việc đối mặt với các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày. Hơn nữa, trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Vật lý đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các khái niệm và quy luật vật lý thông qua thí nghiệm dạy học. Điều này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về lý thuyết mà còn phát triển kỹ năng thực hành và tư duy phản biện.

II. Thí nghiệm trong dạy học chương Dòng điện

Chương trình Vật lý lớp 11 đặc biệt chú trọng đến việc sử dụng thí nghiệm dạy học để phát triển năng lực khoa học cho học sinh. Các thí nghiệm không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về các khái niệm như dòng điện trong kim loại và chất bán dẫn mà còn khuyến khích sự tò mò và khám phá. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành thông qua thí nghiệm giúp học sinh có cái nhìn sâu sắc hơn về các hiện tượng vật lý. Hơn nữa, với sự phát triển của công nghệ, các thí nghiệm kết nối với thiết bị vi tính đã mở ra nhiều cơ hội mới cho việc dạy học, cho phép thực hiện các phép đo chính xác và nhanh chóng.

2.1. Vai trò của thí nghiệm trong dạy học

Thí nghiệm là một phần không thể thiếu trong quá trình dạy học Vật lý. Chúng không chỉ giúp học sinh hình thành các khái niệm mà còn phát triển kỹ năng thực hành và tư duy phản biện. Việc thực hiện các thí nghiệm giúp học sinh có cơ hội trải nghiệm thực tế, từ đó nâng cao khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Đặc biệt, trong chương trình Vật lý lớp 11, các thí nghiệm về Dòng điện trong các môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực khoa học cho học sinh. Điều này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện và xây dựng thêm các thí nghiệm để đáp ứng yêu cầu dạy học hiện đại.

III. Đánh giá năng lực khoa học của học sinh

Đánh giá năng lực khoa học của học sinh là một phần quan trọng trong quá trình dạy học. Việc xây dựng bộ công cụ đánh giá giúp giáo viên có thể theo dõi sự tiến bộ của học sinh trong việc phát triển năng lực khoa học. Các công cụ này không chỉ đánh giá kiến thức mà còn đánh giá kỹ năng thực hành và khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Đặc biệt, trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc đánh giá cần phải linh hoạt và đa dạng để phù hợp với từng đối tượng học sinh.

3.1. Phương pháp đánh giá

Các phương pháp đánh giá năng lực khoa học có thể bao gồm đánh giá qua thí nghiệm, bài kiểm tra thực hành, và các dự án nghiên cứu. Việc sử dụng các phương pháp này không chỉ giúp giáo viên có cái nhìn tổng quát về năng lực của học sinh mà còn khuyến khích học sinh phát triển tư duy độc lập và sáng tạo. Đặc biệt, trong môn Vật lý, việc đánh giá qua thí nghiệm giúp học sinh có cơ hội thể hiện khả năng thực hành và áp dụng kiến thức vào các tình huống thực tế, từ đó phát triển năng lực khoa học một cách hiệu quả.

25/01/2025
Luận án xây dựng và sử dụng thí nghiệm trong dạy học chương dõng điện trong các môi trường vật lí 11 nhằm phát triển năng lực khoa học cho học sinh trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chƣơng 3: Xây dựng và sử dụng thí nghiệm trong dạy học kiến thức về “Dòng điện trong kim loại và chất bán dẫn” nhằm phát triển NLKH cho học sinh. Chƣơng 4: Thực nghiệm sƣ phạm 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KHOA HỌC CHO HỌC SINH 1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Ngày nay, khái niệm năng lực, mô hình năng lực và đánh giá năng lực học sinh dựa trên các tiêu chuẩn đã trở thành phổ biến trong giáo dục và đào tạo.

Từ những năm 1950, các nhà giáo dục Mỹ nhƣ Ralph W. Tyler và Benjamin S. Bloom đề xuất quan điểm giáo dục cần dựa trên kết quả đầu ra (outcome-based education- OBE) và các chƣơng trình giáo dục cần xác định các mục tiêu rõ ràng, có thể định lƣợng đƣợc. Giáo dục dựa trên năng lực (competency-based education -CBE) hay dựa trên kết quả đầu ra đã đƣợc phát triển ở các trƣờng đại học vào đầu những năm 1970.

Gần 50 năm, dạy học dựa trên năng lực đã đƣợc áp dụng trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và trong giáo dục phổ thông ở nhiều nƣớc trên thế giới. Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “năng lực”, sự khác biệt chủ yếu ở độ rộng của nội hàm khái niệm. Tùy theo quan điểm tiếp cận mà ngƣời ta chia năng lực thành các dạng thức khác nhau, phổ biến nhất vẫn là cách phân loại năng lực chung và năng lực chuyên biệt. Năng lực đƣợc nhìn nhận một cách chung đó là những năng lực thiết yếu để con ngƣời có thể sống và làm việc trong xã hội, những năng lực này đƣợc hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học.

Tuy nhiên, trong các môn học, năng lực đã đƣợc thu hẹp vào kiến thức, kỹ năng theo một lĩnh vực khoa học hoặc chủ đề cụ thể. Thế kỷ XXI, khoa học, kỹ thuật và công nghệ tác động đến mọi khía cạnh của cuộc sống hiện đại, yêu cầu giáo dục & đào tạo cung cấp lực lƣợng lao động mới sẵn sàng thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ. 6 Để đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ, các chuyên gia, các nhà khoa học giáo dục trên toàn thế giới, đang tập trung nghiên cứu đổi mới chƣơng trình giáo dục, chuyển từ chƣơng trình giáo dục tiếp cận nội dung sang giáo dục phát triển năng lực ngƣời học, đặc biệt chú trọng đến phát triển NLKH cho học sinh từ cấp phổ thông trung học. Việc nghiên cứu xây dựng chƣơng trình, kiểm tra đánh giá NLKH của học sinh phổ thông ở các nƣớc trên thế giới có thể khái quát nhƣ sau: + Ở Hoa kỳ: Ở Hoa kỳ nghiên cứu xây dựng khung NLKH cho học sinh phổ thông để xây dựng các tiêu chuẩn dạy học các môn khoa học, đƣợc quan tâm từ những năm 1990.

Năm 2012, Ủy ban nghiên cứu khoa học quốc gia Hoa kỳ (National Research Council -NRC) tiếp tục phát triển khung NLKH của học sinh trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trƣớc đây và tìm cách xác định, mô tả các ý tƣởng chính cho giáo dục khoa học phổ thông. Điển hình là các nghiên cứu: “Khoa học cho tất cả người Mỹ “(Science for All Americans ) của Hiệp hội vì sự tiến bộ của khoa học Hoa Kỳ (AAAS); “Tiêu chuẩn Giáo dục Khoa học Quốc gia năm 1996” (Benchmarks for Science Literacy) đƣợc phát triển bởi NRC, kết quả của các nghiên cứu này đã đƣợc sử dụng để phát triển các tiêu chuẩn mới cho giáo dục khoa học ở Hoa kỳ. Khung năng lực khoa học của NRC theo ba hƣớng chính, cụ thể là: - Năng lực thực hành khoa học và kỹ thuật - Các khái niệm xuyên suốt, thống nhất trong nghiên cứu khoa học và kỹ thuật thông qua ứng dụng chúng trong các lĩnh vực khoa học. - Ý tƣởng cốt lõi trong chƣơng trình giáo dục gồm bốn lĩnh vực: khoa học Vật lí; khoa học đời sống; trái đất và khoa học vũ trụ; kỹ thuật, công nghệ và ứng dụng của khoa học.

- Lập kế hoạch và thực hiện điều tra, khảo sát (Planning and carrying out investigations). - Phân tích và giải nghĩa dữ liệu (Analyzing and interpreting data). - Sử dụng tƣ duy toán học và tính toán (Using mathematics and computational thinking). - Giải thích (cho khoa học) và thiết kế giải pháp (cho kỹ thuật) Constructing explanations (for science) and designing solutions (for engineering).

- Tham gia tranh luận dựa trên bằng chứng (Engaging in argument from evidence). - Thu thập, đánh giá và truyền đạt thông tin (Obtaining, evaluating, and communicating information). [73,tr3] Nhiều chu trình học tập khoa học khác nhau đã đƣợc đề xuất, kể từ khi Robert Karplus giới thiệu chu trình dạy học khoa học vào năm 1962. Wenning (2011) giới thiệu chu trình mới về dạy học khoa học Vật lí “phỏng theo” phƣơng pháp nghiên cứu khoa học, gồm 5 giai đoạn: quan sát, thao tác, khái quát, xác minh và áp dụng.

Wenning đề xuất chu trình 5 giai đoạn nhƣ sau: + Quan sát (Observation) - Học sinh quan sát một hiện tƣợng thu hút sự quan tâm của họ và suy nghĩ tìm câu trả lời. Học sinh mô tả chi tiết những gì họ đang nhìn thấy và các ví dụ tƣơng tự. Nêu ra vấn đề cần tìm tòi - khám phá. + Thao tác (Manipulation) - Học sinh đề xuất và thảo luận các ý tƣởng để tìm tòi - khám phá và xây dựng các cách tiếp cận nghiên cứu hiện tƣợng họ quan sát đƣợc, lập kế hoạch thu thập dữ liệu định tính và định lƣợng, sau đó thực hiện các kế hoạch đó.

8 + Khái quát (Generalization) - Học sinh xây dựng các nguyên tắc mới hoặc quy tắc cho các hiện tƣợng khi thấy cần thiết. Học sinh cung cấp một lời giải thích hợp lý về hiện tƣợng này. + Xác minh (Verification) - Học sinh dự đoán và tiến hành kiểm tra bằng cách sử dụng quy tắc chung bắt nguồn từ giai đoạn trƣớc. + Áp dụng (Application) - Học sinh đƣa ra các kết luận độc lập, dựa trên kết quả xác minh của mình.

Các kết luận sau đó đƣợc áp dụng cho các tình huống có phần mới (không mới hoàn toàn). Chu trình học tập 5 giai đoạn này nhấn mạnh và chú trọng vào hoạt động học của học sinh hơn là hoạt động dạy của giáo viên, tác giả đã áp dụng chu trình 5 giai đoạn vào dạy thực nghiệm sƣ phạm, hƣớng dẫn học sinh “bắt chước” (mimics) cách mà các nhà khoa học đã làm để dạy khoa học Vật lí cho học sinh ở bang Illinois (Mĩ). Theo tác giả dạy học theo chu trình 5 giai đoạn - “Có lẽ nó đơn giản và chặt chẽ hơn “bắt chước” các quá trình tổng thể của khoa học Vật lí sơ khai”. + Ở các nước Châu Âu: Các quan niệm về khung NLKH ở các nƣớc Tây Âu khá giống nhau, ví dụ ở Đức, Thụy Sĩ và Áo, khung NLKH chung trong các môn khoa học tƣơng tự nhƣ nhau.

Sự khác biệt về thành tố NLKH giữa ba quốc gia phần lớn liên quan đến nội dung kiến thức khoa học trong một số môn học cụ thể. Ví dụ: ở Áo môn Vật lí dùng cách truyền thống, phân chia kiến thức Vật lí theo: cơ học, điện từ, nhiệt động lực học, quang học và vật chất. Ở Đức đã áp dụng cho cả ba môn khoa học là năng lƣợng, vật chất, hệ tƣơng tác, ở Thụy Sĩ phân chia theo các chủ đề: vật chất, hành tinh trái đất, năng lƣợng, cơ thể con ngƣời, thực vật và động vật, hệ sinh thái, xã hội và công nghệ. [75, tr 52] Công bố nghiên cứu của Sara Frank Bristow Susan Patrick (2014) nghiên về giáo dục dựa trên năng lực cho thấy: 28 quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu đã xác định việc hình thành và phát triển những năng lực chính để học tập suốt đời là một biện pháp quan trọng của Châu Âu trong bối cảnh toàn cầu hóa 9 và sự chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức.

Các năng lực học tập suốt đời là sự kết hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ đƣợc coi là cần thiết cho sự hoàn thành và phát triển cá nhân. Năng lực này gồm 8 năng lực thành phần trong đó năng lực thứ 3 là “Năng lực toán học và năng lực cơ bản trong khoa học và công nghệ” (mathematical competence and basic competences in science and technology). Các năng lực đƣợc nêu trong “Khung trình độ châu Âu” để học tập suốt đời. Trên cơ sở đó, các quốc gia phát triển chƣơng trình giáo dục của riêng mình, nhƣng phải mô tả chuẩn đánh giá kết quả học tập theo “khung năng lực tham chiếu châu Âu” và phát triển một số công cụ đánh giá mới để hỗ trợ quá trình học tập, nhấn mạnh tính minh bạch của chuẩn đánh giá và bằng cấp để các quốc gia có thể liên kết hệ thống đào tạo với nhau [74, tr,7-8].

Theo Xavier Roegiers (Pháp) trong dạy học tích hợp năng lực đƣợc phát triển thông qua việc học sinh vận dụng các kĩ năng vào giải quyết các tình huống học tập, các tình huống này đƣợc giáo viên xây dựng dựa trên nội dung môn học. Nghĩa là, năng lực của học sinh đƣợc hình thành hoặc phát triển nhờ vào việc các em tự tích lũy dần dần các kĩ năng (kĩ năng hoạt động, kĩ năng nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự phát triển.) trong và sau khi giải quyết thành công các tình huống học tập. Năng lực nêu trong nghiên cứu Xavier Roegiers gọi là “năng lực nội môn”. Thực tế, năng lực của học sinh khi giải quyết tình huống học tập không chỉ là năng lực nội môn mà thƣờng dƣới dạng “năng lực liên môn” - năng lực dựa trên các kiến thức đƣợc lĩnh hội thuộc nhiều môn học khác nhau.

Đồng quan điểm với De Ketele, Xavier Roegiers cho rằng: trong dạy học (giáo dục) năng lực học sinh đƣợc phát triển theo hai mức độ, De Ketele gọi hai mức năng lƣc đó là: “năng lực cơ bản” và “năng lực đề cao” [52, tr113]. Năng lực cơ bản (năng lực tối thiểu, năng lực cốt lõi, năng lực nền …) là năng lực bắt buộc học sinh phải làm chủ để có khả năng chuyển tiếp sang quá trình học tập mới. Một năng lực cơ bản mang tính tƣơng đối trong quá trình đào tạo chứ không phải trong phạm vi đào tạo phổ cập, trong phạm vi đào tạo này, nó là năng lực tối thiểu để học sinh giải quyết một vấn đề, một tình huống học tập.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án mang tiêu đề "Luận án về thí nghiệm trong dạy học chương dõng điện nhằm phát triển năng lực khoa học cho học sinh lớp 11" tập trung vào việc áp dụng thí nghiệm trong giảng dạy vật lý, đặc biệt là chương dõng điện, nhằm nâng cao năng lực khoa học cho học sinh lớp 11. Tác giả đã chỉ ra rằng việc thực hiện thí nghiệm không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về lý thuyết mà còn phát triển kỹ năng tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Bài viết cung cấp những phương pháp và chiến lược cụ thể để giáo viên có thể áp dụng trong lớp học, từ đó tạo ra môi trường học tập tích cực và hiệu quả hơn.

Nếu bạn quan tâm đến việc dạy học vật lý theo quy trình nghiên cứu khoa học, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Vật Lí Theo Quy Trình Nghiên Cứu Khoa Học Chương Điện Từ Học", nơi trình bày các phương pháp dạy học hiện đại trong lĩnh vực này. Ngoài ra, bài viết "Luận án tiến sĩ về tổ chức dạy học định luật bảo toàn vật lí 10 THPT theo định hướng phát triển năng lực sáng tạo" cũng sẽ cung cấp thêm góc nhìn về việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh thông qua các phương pháp dạy học khác nhau. Cuối cùng, bài viết "Luận án tiến sĩ: Xây dựng và sử dụng phim học tập trong dạy học phần cơ học vật lý lớp 10 nhằm bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề của học sinh" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy để nâng cao khả năng giải quyết vấn đề của học sinh. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức và cung cấp thêm nhiều phương pháp hữu ích cho việc giảng dạy vật lý.