Chương 1- TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ VIẾC PHÁT TRIỂN VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC VẬT LÍ CHO SINH VIÊN 1. Những nghiên cứu về năng lực dạy học Vật lí a. Những nghiên cứu về khái niệm NL Khái niệm năng lực (tiếng Anh Competence) đầu tiên được nhà ngôn ngữ học người Mỹ N.Chomsky sử dụng để chỉ năng lực ngôn ngữ của một thành viên trong một cộng đồng ngôn ngữ nào đó. Tức là kết quả của một hoạt động ngôn ngữ.
Sau đó là các nhà lí luận dạy học ngoại ngữ sử dụng rộng rãi thuật ngữ này để chỉ một năng lực nào đó trong quá trình lĩnh hội ngôn ngữ đích. Trong lí luận dạy học nói chung, khái niệm “năng lực” có nhiều định nghĩa khác nhau. Năm 1995, tác giả Shirley Fletcher viết cuốn “Các kĩ thuật đánh giá dựa trên năng lực thực hiện” (Competence-based assessment techniques) [110], trong đó phân tích sự khác biệt về đào tạo theo NL ở Anh và Mỹ, các nguyên tắc và thực hành đánh giá theo tiêu chuẩn, mục tiêu và sử dụng đánh giá dựa trên NL, việc thiết lập các tiêu chí cho sự thực hiện, thu thập bằng chứng cho đánh giá NL. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu đánh giá dựa trên NL, một khâu của quá trình dạy học.
Đến 1997, Shirley Fletcher cho ra đời tiếp tài liệu “Thiết kế đào tạo dựa trên năng lực thực hiện” (Designing Competence – Based Training) [111], trong đó đề cập các cơ sở khoa học của việc thiết lập các tiêu chuẩn đào tạo, các kĩ thuật phân tích nhu cầu người học và phân tích công việc, xây dựng mô đun dạy học và khung chương trình. Những năm 2000, có những công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm NL, điển hình như: “Khái niệm về năng lực: Làm rõ khái niệm” (Concept of competence: A conceptual clarification) của Franz E.45-65], “Xác định và lựa chọn các năng lực chủ chốt” (Defining and Selecting Key Competencies) của Rychen, D.5], “Phát triển kĩ năng quản lí” (Developing Management Skills) của David A. Whetten và Kim S.2], “Kích thước đo lường hiệu suất cho giảng viên tại các trường đại học được chọn: Một viễn cảnh quốc tế” (Performance measurement dimensions for lecturers at selected universities: An international perspective) của Gabedi N. Molefe (2010) [88], các tác giả này đã đưa ra khái niệm NL theo cách tiếp cận khác nhau.
Tuy nhiên, theo chúng tôi việc xác định nội hàm khái niệm NL của các tác giả này chưa tạo điều kiện để xác định NL thành phần của NLDH cho SVSP. Ở Việt Nam, có những công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm NL như: “Tâm lí học đại cương” của tác giả Nguyễn Quang Uẩn (2005) [68], “Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông” của tác giả Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier (2010) [14, tr.43-46], “Các kiểu tổ chức dạy học hiện đại trong dạy học vật lí ở trường phổ thông” của tác giả Đỗ Hương Trà (2012), “Năng lực và giáo dục theo tiếp cận năng lực” của Đặng Thành Hưng (2014) .Theo chúng tôi, các tác giả này đã đưa ra khái niệm NL chung nên việc xác định nội hàm khái niệm cũng chưa tạo điều kiện để xác định thành phần của NLDH cho SVSP. Từ những nghiên cứu trên, các tác giả đã đưa ra khái niệm về KN, NL theo cách tiếp cận của bản thân tác giả. Trong đó, có khái niệm NL của các tác giả Franz E.
Weinert và Bernard Blandin có liên quan đến nội dung mà chúng tôi cần nghiên cứu. Tuy nhiên, việc xác định nội hàm khái niệm NL của các tác giả này còn chưa tạo điều kiện để xác định NL thành phần của NLDHVL. Vậy, dựa trên những quan điểm nào để đưa ra khái niệm NL để tạo điều kiện xác định NL thành phần của nó? b. Những nghiên cứu đưa ra khái niệm NLDH, NLDHVL NLDH cũng được quan tâm ở các nước phương Tây như: Hoa Kì, các nước 10 Tây Âu, Canada và Châu Úc, Pháp.
có các công trình nghiên cứu như: Năm 1987, có công trình nghiên cứu “Quá trình học tập” (The process of learning) [93] của các tác giả John B. Biggs, Ross Telfer, nhóm tác giả dựa trên cơ sở các thành tựu của tâm lí học hành vi và tâm lí học chức năng để tổ chức rèn luyện các kĩ năng thực hành giảng dạy cho SV. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa nghiên cứu cụ thể về NLDH của SV. Năm 1998, tác giả Geoffrey Petty với nghiên cứu “Giảng dạy ngày nay” (Teaching today) [102], những kiến thức trong sách chủ yếu thiên nhiều hơn về "kĩ năng dạy và học", hệ thống những kinh nghiệm và kĩ năng dạy học gì GV sẽ có được trong tương lai.
Đặc biệt, sẽ hiểu chính xác khẩu hiệu "đổi mới phuơng pháp dạy học" cụ thể nó là thế nào? Cách tự tạo cho mình hứng thú khi đi dạy ra làm sao? Từ những năm của thế kỉ XX, có những công trình nghiên cứu như: “Dạy học từ giáo viên” (Learning Teaching from Teachers) [90, tr.20-36] của azel Hagger và Donald McIntyre (2006), nội dung trong nghiên cứu này đã đề cập đến việc tìm hiểu ý nghĩa của phương pháp tiếp cận khác nhau để giúp các sinh viên sư phạm học hỏi từ các giáo viên thực hành và tập trung đặc biệt vào cách tiếp cận dựa trên nghiên cứu về chuyên môn đó và được thiết kế để cung cấp cho sinh viên sư phạm truy cập vào nó. Công trình nghiên cứu “Hỗ trợ phát triển năng lực giáo viên để có kết quả học tập tốt hơn” (Supporting teacher competence development for better learning outcomes) [86] của nhóm tác giả nhóm GV phát triển chuyên môn bào gồm các chuyên gia của 26 quốc gia Châu Âu và các tổ chức khác (2013), trong nghiên cứu này đã đưa ra khái niệm NL, NLDH; chuẩn NL; chuẩn nghề nghiệp của GV trong các quốc gia thành viên của Châu Âu. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về NLDH của SVSP chưa được các tác giả đề cập đến. Ở Việt Nam có thể kể đến công trình nghiên cứu đầu tiên vào năm 1975 của Lê Văn Hồng “Một số vấn đề về năng lực sư phạm của người GV xã hội chủ nghĩa”, tác giả đã nêu lên tương đối cụ thể các năng lực sư phạm cần có của người GV xã hội chủ nghĩa.
Tác giả này chỉ nghiên cứu đề cập đến NL sư phạm của người GV. 11 Từ những năm 90, có những nghiên cứu về NLDH như: “Thực tập sư phạm” của Nguyễn Đình Chỉnh (1991), “Tiềm năng - Năng lực - Nhân tài” của Phạm Minh Hạc (1997) [21], “Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm-dùng cho các trường Đại học Sư phạm và Cao đẳng Sư phạm” của nhóm tác giả Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (1998) [25, tr.6-9], các tác giả đã đưa ra khái niệm về NLSP, NLDH của GV. Từ những năm 2000, có những nghiên cứu như: “Tâm lí học” của Phạm Minh Hạc (2001) [22], “Dạy học hiện đại và nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên” của Vũ Xuân Hùng (2012) [28], “Bồi dưỡng năng lực dạy học theo góc cho SV ngành sư phạm Vật lí” của Phùng Việt Hải (2015)[24]. Trong các nghiên cứu này, có một số tác giả đã đề cập đến NLDH cần phát triển cho SVSP vật lí.
Tuy nhiên, ở nghiên cưú này, việc xác định và mô tả những NL thành phần của NLDHVL cần bồi dưỡng và phát triển cho SVSP chưa được nghiên cứu cụ thể. Gần đây, có một luận án “Phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm qua dạy học vi mô” của Uông Thị Lê Na (2017) [44], tác giả đã đưa ra hệ thống khái niệm về NLDH cần được phát triển cho SV CĐSP. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về khái niệm NLDH cho SVSP chưa được nghiên cứu cụ thể để tạo điều kiện xác định thành phần của nó và chưa đặc thù đối với SVSP vật lí, Trên đây là những nghiên cứu về NLSP và NLDH của SVSP chuyên ngành khác nhau ở các trường CĐ và ĐH. Trong đó, có khái niệm NLDH của các tác giả Vũ Xuân Hùng, Phùng Việt Hải, Uông Thị Lê Na có liên quan đến nội dung mà chúng tôi cần nghiên cứu.
Tuy nhiên, việc xác định nội hàm khái niệm NLDH của các tác giả này chưa tạo điều kiện để xác định NL thành phần của NLDHVL và chưa xác định đầy đủ và cụ thể. Câu hỏi khoa học được đặt ra đối với chúng tôi là: Vậy dựa trên những quan điểm nào để đưa ra khái niệm NLDH, NLDHVL đầy đủ và cụ thể hơn? c. Những nghiên cứu đưa ra cấu trúc NLDH, NLDHVL Ở Liên Xô và các nước Đông Âu, những năm 60 của thế kỉ XX, nghiên cứu phát triển NLDH cho GV như: N.V Kuzmina [94] đã đưa ra bốn nhóm năng lực sư 12 phạm: a) Các NL truyền đạt: NL giảng dạy trên lớp, NL sử dụng ngôn ngữ, NL báo cáo …; b) Các NL tổ chức: NL xác định tình huống, NL động viên, NL chỉ đạo, lãnh đạo …; c) Các NL nhận thức: NL theo dõi học sinh, NL học tập kinh nghiệm mới; d) Các NL sáng tạo: NL đặt kế hoạch, NL xác định chương trình…. Bước sang thập kỉ 70 và những năm sau đó, các công trình nghiên cứu ở liên Xô và Đông Âu như: “Những phẩm chất tâm lí của người giáo viên” của F.N Gonobolin [20] đã đã nêu ra 10 NL điển hình, cơ bản của NL sư phạm đó là: “Năng lực hiểu học sinh; năng lực truyền đạt tài liệu học tập; năng lực thu hút học sinh; năng lực thuyết phục mọi người; năng lực tổ chức; năng lực xử lí tình huống sư phạm; năng lực dự báo kết quả; năng lực sáng tạo trong công tác dạy học; năng lực điều khiển quá trình hoạt động.”; “Nội dung và cấu trúc thực hành sư phạm ở các trường ĐHSP trong giai đoạn hiện nay” của O.Abdoullina [1], tác giả cũng đã đã phân loại các nhóm KN sau: “1) KN nghiên cứu học sinh; 2) KN tổ chức giảng dạy và giáo dục; 3) KN tiến hành công tác giáo dục xã hội; “Hình thành các kĩ năng, kĩ xảo sư phạm cho SV trong điều kiện nền giáo dục đại học” của X.I Kixêgôv [38], tác giả chỉ ra “NLDH của GV thể hiện qua hơn 100 kĩ năng nghiệp vụ giảng dạy và giáo dục, trong đó tập trung 50 kĩ năng cần thiết được phân chia tập luyện theo từng thời kì thực hành, thực tập sư phạm cụ thể”.
Từ những năm 2000, có nhiều cuốn sách như: “Chuẩn cho việc chuẩn bị giáo viên Khoa học” [101, tr.