CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH DƯỢC PHẨM NGOÀI QUỐC DOANH DƯỚI ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Các khái niệm Marketing – Marketing dược Định nghĩa Marketing dược: Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt và có đặc thù riêng, việc sử dụng thuốc như thế nào, số lượng bao nhiêu, cách thức sử dụng ra sao thì không phải do người bệnh tự quyết định mà được quyết định chủ yếu bởi thầy thuốc, và người tiêu dùng phải tuân thủ nghiêm ngặt. Xuất phát từ những định nghĩa marketing căn bản hiện nay, kết hợp với những điểm khác biệt của ngành dược nói riêng, có thể đưa ra định nghĩa marketing cho các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm như sau: Ở tầm vĩ mô: Marketing được hiểu là một cấu trúc doanh nghiệp hệ thống các dòng cung ứng những sản phẩm thuốc chất lượng tốt nhằm thỏa mãn nhu cầu của người dân sử dụng an toàn, hợp lý, hiệu quả, giá cả phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội. Ở tầm vi mô: Marketing được hiểu là hình thái marketing của các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm, hình thái marketing này có thực chất là marketing cho sản phẩm đặc biệt, là quá trình hoạch định và điều hành các công cụ chào hàng hỗn hợp (offering – mix), các dòng phân phối, các bằng chứng vật thể và phi vật thể để tạo nên các giao dịch, các quá trình dịch vụ cốt lõi nhằm thỏa mãn nhu cầu các cá nhân tiêu dùng và mục tiêu doanh nghiệp. Ngoài các mục tiêu, chức năng của marketing thông thường, Marketing Dược phải đáp ứng được 05 đúng (05R): “Thuốc được bán ra đúng loại thuốc, đúng giá, đúng số lượng, đúng lúc và đúng nơi”.
4 Dưới đây sẽ tóm lược qua những khái niệm cơ bản nhất trong marketing Dược nhằm tạo tiền đề cho công tác phát triển Marketing-mix trong các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm.2 Vai trò, chức năng của Marketing Dược 1.1 Vai trò của Marketing Dược Mục tiêu của Marketing Dược: o Mục tiêu lợi nhuận: Đây là mục tiêu cốt lõi của mọi doanh nghiệp nhằm bảo đảm bù đắp chi phí, tích lũy và tái sản xuất hàng hóa, giúp cho doanh nghiệp phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong marketing dược, mục tiêu lợi nhuận phải được đặt hài hòa với lợi ích của bệnh nhân vì vậy quá trình đạt đến mục tiêu lợi nhuận của marketing dược phải là quá trình đáp ứng tốt cho nhu cầu điều trị: thuốc mới, thuốc tốt, lợi ích cho người bệnh, lợi ích cho xã hội. o Mục tiêu tạo lợi thế cạnh tranh: thể hiện ở chỉ tiêu thị phần, thị trường của doanh nghiệp. Trong marketing dược thì mục tiêu này được thể hiện bởi sự vượt trội của đáp ứng 5R cho người bệnh để từ đó tạo lợi thế cạnh tranh cao hơn nhu chất lượng sản phẩm tốt hơn, sản phẩm được cung ứng phù hợp, kịp thời về giá cả, về kênh phân phối hơn… o Mục tiêu an toàn trong kinh doanh: bằng cách vận dụng các chính sách marketing trong kinh doanh, doanh nghiệp sẽ phân tích, phán đoán được những biến động của thị trường, nhận ra được các cơ hội kinh doanh đồng thời đề ra những biện pháp đối phó với những bất trắc và hạn chế tối đa hậu quả của những rủi ro trong kinh doanh.
Trong marketing dược, mục tiêu này đòi hỏi công ty phải nghiên cứu sự an toàn và hợp lý trong việc sử dụng thuốc, tác dụng phụ của thuốc, phải đảm bảo được chất lượng của sản phẩm, an toàn cho bệnh nhân để có thể nâng cao địa vị, uy tín lâu dài cho công ty. o Khi doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm quan tâm đến mục tiêu sức khỏe thì họ sẽ phải đối đầu với những khó khăn lớn hơn trong mục tiêu kinh tế. Do vậy, mẫu thuẫn giữa 5 mặt tiêu cực kinh tế thị trường với tính nhân đạo của ngành Y tế là một thách thức lớn với marketing dược. Vai trò của Marketing Dược: Ở cấp vĩ mô, Marketing dược có vai trò rất quan trọng, nó kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng, khuyến khích sản xuất, phát triển thuốc mới, đảm bảo cung ứng cho xã hội đầy đủ thuốc có chất lượng và giá cả hợp lý.
Ở cấp vi mô, marketing dược có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tiếp cận trực tiếp bác sĩ và bệnh nhân. Marketing dược góp phần định hướng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó tác động tới hiệu quả kinh doanh, hình ảnh và vị thế của công ty trên thương trường, hướng tới chăm sóc về thuốc tốt hơn cho bệnh nhân.2 Các chức năng của Marketing Dược o Chức năng làm thích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trường: Marketing có chức năng làm cho sản phẩm luôn thích ứng với nhu cầu của thị trường, tức là nó thâu tóm, gắn bó các bộ phận sản xuất, kỹ thuật một cách chặt chẽ trong quá trình hoạt động. Đối với Dược phẩm thì đó là làm sản phẩm đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu điều trị của người bệnh.
Để đạt được chức năng này, doanh nghiệp cần phải có chiến lượng marketing-mix tổng hợp từ việc đưa ra sản phẩm với mẫu mã, bao bì, dạng bào chế, đường dùng, chỉ định, chống chỉ định, v.v… đạt chất lượng cao đáp ứng nhu cầu điều trị cụ thể, đến việc giúp nó trở nên quen thuộc trên thị trường, được thị trường chấp nhận và có hiệu quả kinh tế cao. o Chức năng phân phối: Bao gồm toàn bộ hoạt động nhằm doanh nghiệp vận chuyển thuốc theo các kênh phân phối một cách tối ưu và hiệu quả từ nơi sản xuất tới nơi trung gian bán buôn, bán lẻ thuận lợi hơn cho khách hàng. o Chức năng tiêu thụ hàng hóa: Chức năng này nhằm kiểm soát về giá cả, chỉ ra các nghiệp vụ và nghệ thuật bán hàng. 6 o Chức năng yểm trợ bao gồm các hoạt động quảng cáo, kích thích tiêu thụ, thông tin thuốc và bán hàng cá nhân để đẩy mạnh bán ra và nâng cao uy tín, vị thế của công ty và sản phẩm.3 Môi trường marketing của doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm trong tiến trình phát triển ở Việt Nam 1.1 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô Bất kỳ một chiến lược marketing nào cũng phải nằm trong môi trường vĩ mô của nó.
Các yếu tố chủ yếu của môi trường vĩ mô bao gồm: môi trường nhân khẩu (bùng nổ dân số, cơ cấu tuổi và dân tộc, trình độ học vấn, di chuyển chỗ ở, dịch chuyển từ một thị trường đại chúng sang các vi thị trường), môi trường kinh tế (phân phối thu nhập, tiết kiệm, nợ và khả năng vay), môi trường tự nhiên (thiếu hụt năng lượng, chi phí năng lượng, mức độ ô nhiễm, sự thay đổi cai trò của các chính phủ trong việc bảo vệ môi trường), môi trường công nghệ (sự tăng tốc của việc thay đổi công nghệ, những cơ hội đổi mới, thay đổi ngân sách nghiên cứu và phát triển, quy định về đổi công nghệ ngày càng chặt chẽ), môi trường chính trị (các đạo luật điều chỉnh kinh doanh, sự phát triển cảu các nhóm bảo vệ công cộng), môi trường văn hóa (giá trị văn hóa cốt lõi, các nhánh văn hóa, giá trị văn hóa thứ yếu biến đổi theo thời gian).2 Các yếu tố thuộc môi trường vi mô Môi trường vi mô của các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm bao gồm những thành viên ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng bao gồm: các nhà sản xuất- cung ứng, bản thân doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm, các đối thủ cạnh tranh, các trung gian marketing, khách hàng và công chúng.4 Phân tích nội dung hoạt động marketing của doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm Theo bản chất và nguyên tắc của marketing dược, doanh nghiệp hoạt động marketing của một doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm là một bộ phận cấu thành hệ thống marketing và được hiểu là một tích hợp các yếu tố, các quá trình, các công cụ trong một cơ cấu, nguồn lực marketing để triển khai, thực hiện và đáp ứng các mục tiêu marketing của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu của nó. Cấu trúc và nội dung doanh nghiệp hoạt động marketing căn bản của doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm trong cơ chế thị trường bao gồm: 1.1 Doanh nghiệp hoạt động nghiên cứu marketing và phân tích SWOT của doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm Nghiên cứu marketing: Mỗi một doanh nghiệp theo định hướng marketing luôn phải tìm kiếm những phương thức nghiên cứu marketing nhằm thiết kế, phân tích và báo cáo một cách có hệ thống các thông tin, phát hiện có liên quan đến một tình huống marketing cụ thể của doanh nghiệp đó. Công việc nghiên cứu này có thể được thực hiện thỉnh thoảng hoặc thường xuyên. Những doanh nghiệp thành công là những doanh nghiệp có thể đánh giá và đáp ứng một cách hiệu quả nhất đối với những thay đổi về xu hướng và nhu cầu của thị trường.
Trong lĩnh vực kinh doanh dược phẩm, với các đặc trưng của ngành này, các quá trình nghiên cứu marketing phải lượng hóa chính xác và kịp thời các dữ liệu, thông tin liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp như: - Những thay đổi trong môi trường vĩ mô liên quan đến sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. - Nhu cầu và hành vi sử dụng sản phẩm, dịch vụ của nhóm khách hàng mục tiêu. - Các động thái cạnh tranh của các đối thủ trên thị trường. 8 - Đánh giá của khách hàng về hình ảnh, chất lượng, giá cả sản phẩm của doanh nghiệp.
Phân tích SWOT Trên cơ sở kết quả nghiên cứu marketing kết hợp với những thông tin xuất phát từ hệ thống thông tin marketing của doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm, mô hình phân tích SWOT sẽ giúp đưa ra được chiến lược marketing cho các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm. SWOT là viết tắt của 4 thành phần chính trong phân tích môi trường và bản thân doanh nghiệp bao gồm: điểm mạnh và điểm yếu của chính bản thân doanh nghiệp, những mối đe dọa và cơ hội từ môi trường bên ngoài liên quan đến chiến lược tương lai của doanh nghiệp. Trong đó, điểm mạnh là một tài sản, một thuộc tính, hoặc một nguồn lực mà tạo ra lợi thế cạnh tranh bền lâu cho doanh nghiệp và điểm yếu xẩy ra khi thiếu hoặc không có một nguồn lực mà khiến cho doanh nghiệp dễ bị tổn thương bởi những lợi thế cạnh tranh của đối thủ. Vai trò đầu tiên của phân tích SWOT là đánh giá môi trường marketing vĩ mô và ngành kinh doanh.
Tại thời điểm này, các doanh nghiệp phải đánh giá chung nền kinh tế, cạnh tranh, định chế, xã hội và những thay đổi trên thị trường.