CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH DƯỢC PHẨM 1.Khái niệm về Marketing Trên thế giới có nhiều quan điểm về Marketing như sau: Theo hiệp hội Marketing của Mỹ: “Marketing là thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm hướng vào dòng vận chuyển hàng hoá và dịch vụ từ người sản xuất tới người tiêu thụ hoặc người sử dụng”. Viện Marketing Anh định nghĩa: “Marketing là quá trình tổ chức và quản lý toàn bộ quá trình sản xuất- kinh doanh. Từ việc phát hiện và biến sức mua của người tiêu dung thành nhu cầu thực sự về mặt hàng cụ thể, đến việc sản xuất và đa dạng hóa đến người tiêu dung cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu được theo lợi nhuận dự kiến”. Cả hai quan điểm trên mới chỉ đề cập đến Marketing trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong khi thực tế Marketing cũng được sử dụng phổ biến trong các hoạt động xã hội, vì mục đích phi lợi nhuận.
Theo Giáo sư Philip Kotler: “Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi”. Định nghĩa này bao gồm cả Marketing trong sản xuất, kinh doanh và Marketing xã hội. Do đó, trong quá trình nghiên cứu của bài khóa luận này, chúng ta sẽ sử dụng khái niệm Marketing theo quan điểm của Giáo sư Philip Kotler. Hoạt động Marketing trong ngành dược phẩm 1.
Tổng quan về Marketing trong ngành dược phẩm Đứng trên góc độ ngành dược, Marketing đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động của nhà sản xuất kinh doanh, nó ảnh hưởng gián tiếp hay trực tiếp tới bệnh nhân. Do đó, bệnh nhân có vị trí trung tâm trong chiến lược Marketing của các công ty dược phẩm. Đứng về phía xã hội, các công ty dược phẩm phải cung ứng thuốc, đảm bảo chất lượng tốt để người dân sử dụng an toàn, hợp lý và hiệu quả, giá cả phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội.Smith: Marketing dược đóng vai trò như chiếc chìa khóa, ảnh hưởng hoặc tác động trực tiếp từ nhà sản xuất đến bệnh nhân. Bệnh nhân được quan tâm và đặt lên hàng đầu của hoạt động Marketing dược, Mickey C.Smith còn nhấn mạnh: “Đối tượng cần cho sự tồn tại của Marketing dược là bệnh nhân chứ không phải là nhà sản xuất hay các cửa hàng dược”.
Vì vậy: “Marketing dược thực chất là tổng hợp các chính sách chiến lược Marketing của thuốc nhằm thỏa mãn nhu cầu của bệnh nhân, nhằm phục vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, sức khỏe của xã hội”. Trích trang 194, giáo trình “Quản lý và kinh tế dược” – Đại học Dược Hà Nội. Ngoài các mục tiêu, chức năng của Marketing thông thường, do đặc thù riêng của ngành yêu cầu Marketing dược có nhiệm vụ: thuốc bán ra phải đúng loại thuốc, đúng giá, đúng số lượng, đúng lúc và đúng nơi. Như vậy, bản chất của Marketing dược là thực hiện nâng cao chất lượng dược phẩm, đáp ứng, thỏa mãn tốt nhu cầu điều trị chứ không chỉ là sản xuất hay kinh doanh thuốc.
Những đặc điểm của Marketing trong ngành dược phẩm 1. Điều kiện kinh doanh dược phẩm khắt khe Dược phẩm là hàng hóa đặc biệt có tính đặc thù cao nên ở Việt Nam hay tất cả các nước trên thế giới, kinh doanh dược phẩm vẫn là một trong những ngành nghề kinh doanh có điều kiện nghiêm ngặt nhất. Tại các nước phát triển ngành dược phẩm là ngành được Chính phủ và Nhà nước coi trọng và quan tâm bởi đây là ngành có tác động rất lớn tới đời sống và sức khỏe của con người. Kinh doanh thuốc bao gồm các hình thức sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, bán buôn, bán lẻ, dịch vụ bảo quản và dịch vụ kiểm nghiệm thuốc.
Kinh doanh thuốc là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Cơ quan, tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc. Tiêu chuẩn hành nghề sản xuất kinh doanh dược phẩm - Có văn bằng hoặc chứng chỉ hợp pháp - Có quốc tịch Việt Nam - Có sức khỏe phù hợp - Có giấy phép hành nghề dược của Bộ y tế hoặc sở y tế. - Người nước ngoài muốn hàng nghề dược tại Việt Nam phải được Bộ Y tế Việt Nam cấp giấy phép.
Điều kiện hành nghề đối với cơ sở bán lẻ thuốc a/ Tiêu chuẩn về bằng cấp và thời gian thực hành Phải có đầy đủ các tiêu chuẩn của người hành nghề dược như trên và phải có bằng cấp chuyên môn về dược từ dược tá trở lên. b/Điều kiện về cơ sở vật chất trang thiết bị của cơ sở bán lẻ thuốc - Về địa điểm bán thuốc: + Diện tích: phải có diện tích đủ rộng phù hợp với quy mô kinh doanh, diện tích mặt bằng tối thiểu là 10m2. + Địa điểm: riêng biệt, ổn định, phải được xây dựng ở nơi cao ráo, sạch sẽ, đồng thời đáp ứng các yêu cầu về mua bán, bảo quản và đảm bảo chất lượng thuốc theo đúng quy chế dược hiện hành. Trần nhà phải được bê tông hóa hoặc ít nhất phải có lớp trần chắn để tránh mưa, nắng, bụi từ mái nhà đồng thời tạo khoảng không chống nóng.
- Trang thiết bị: + Có đủ tủ, quầy chắc chắn, khay đếm thuốc, túi đựng thuốc và trang thiết bị bảo quản thuốc theo đúng yêu cầu bảo quản ghi trên nhãn thuốc được bán… + Phải có tủ hoặc ngăn tủ riêng để bảo quản các thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần, thuốc độc theo quy định của các quy chế liên quan. + Thuốc sắp xếp trong tủ, quầy phải đảm bảo yêu cầu dễ thấy, dễ lấy, tránh nhầm lẫn, thực hiện các nguyên tác nhập trước- xuất trước và nguyên tắc hạn dùng trước- xuất trước. + Thuốc phải được bảo quản nơi khô, mát, tránh ánh sáng mặt trời. Phải đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường, phòng chống cháy nổ.
- Tài liệu chuyên môn: + Có các tài liệu chuyên môn thích hợp để tra cứu sử dụng thuốc. + Có quy chế dược và các văn bản quy định về hành nghề dược. + Có sổ sách ghi chép theo nội dung: tên thuốc, hạn dùng và nguồn gốc mua bán thuốc. + Phải có nội quy, quy trình bán thuốc.
- Điều kiện hành nghề đối với cơ sở bán buôn thuốc a/Tiêu chuẩn về bằng cấp và thời gian thực hành Được áp dụng theo tiêu chuẩn chung của người hành nghề dược và tiêu chuẩn chung của người phụ trách chuyên môn. Người phụ trách chuyên môn các cơ sở bán buôn thuốc của Doanh nghiệp ở miền núi, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn phải là dược sỹ đại học hoặc dược sỹ trung học và đã có 02 năm thực hành tại cơ sở dược hợp pháp. Người giúp việc bán thuốc phải là người có chuyên môn về dược từ dược tá trở lên. Thủ kho phải có chuyên môn từ dược sỹ trung học trở lên, đối với cơ sở chuyên bán thuốc y học cổ truyền hoặc dược liệu phải là lương dược.
Đối với cơ sở bán buôn thuốc độc, thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc thủ kho phải đáp ứng tiêu chuẩn theo quy chế quản lý thuốc độc, thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc. Nhân viên kiểm soát, kiểm tra, giám sát đảm bảo chất lượng thuốc: cơ sở phải bố trí dược sỹ đại học theo dõi và đảm bảo chất lượng thuốc. b/ Điều kiện về sơ sở vật chất và trang thiết bị - Cơ sở bán hàng: + Diện tích: phải phù hợp với quy mô kinh doanh nhưng tối thiểu nơi giao dịch không dưới 20m2. + Địa điểm: riêng biệt, ổn định.
+ Trang thiết bị: có quầy, tủ, giá, kệ, nhiệt kế… + Phải có quy trình bán thuốc. + Nếu có mở thêm cơ sở bán lẻ thì phải được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện bán lẻ và địa điểm bán lẻ phải riêng biệt với địa điểm bán buôn. - Kho thuốc: + Diện tích kho: Phải đủ rộng phù hợp với quy mô kinh doanh, nhưng tổng diện tích tối thiểu phải là 30m2. + Kho phải riêng biệt, ổn định, cao ráo, sạch sẽ, thông thoáng và phòng chống cháy nổ.
+ Kho bảo quản dược liệu phải đủ rộng tùy theo quy mô kinh doanh và phải được thiết kế đảm bảo chống nóng, ẩm, mối mọt, côn trùng. + Phải có hệ thống thông gió, điều hòa nhiệt độ để duy trì nhiệt độ chung trong kho không quá 25°C và các thiết bị bảo quản phù hợp với yêu cầu bảo quản đặc biệt một số thuốc. + Trang thiết bị của kho thuốc: phải có nhiệt kế, ẩm kế và có đủ tủ, giá, kệ để sắp xếp thuốc theo đúng chủng loại thuốc, theo tên thuốc hoặc theo nhà sản xuất, đảm bảo nguyên tắc nhập trước- xuất trước, hạn dùng trước- xuất trước. + Phải có phương tiện và phương án đảm bảo an toàn lao động, phòng cháy chữa cháy.
+ Phải có nội quy kho thuốc. + Việc bảo quản tồn trữ thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần, thuốc độc theo quy định tại các quy chế hiện hành. - Tài liệu chuyên môn: + Có các tài liệu chuyên môn thích hợp để tra cứu sử dụng thuốc + Có quy chế dược và các văn bản quy định hành nghề dược. + Có thẻ kho, sổ sách ghi chép theo các nội dung: Tên thuốc, nhà sản xuất, hạn dùng, nguồn gốc mua bán thuốc, phiếu kiểm nghiệm (có thể là bản sao đóng dấu của nhà nhập khẩu thuốc hoặc nhà sản xuất).
+ Phải áp dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý xuất nhập thuốc. + Phải có nội quy kho, quy trình giao nhận thuốc. - Bộ phận kiểm soát, kiểm tra, giám sát đảm bảo chất lượng thuốc: phải thực hiện công tác kiểm soát, kiểm tra, giám sát và quản lý chất lượng thuốc. Điều kiện hình thành nhu cầu thuốc khác nhau Thuốc dùng cho người bệnh được chia thành 2 loại: loại không cần kê đơn- OTC và loại thuốc người bệnh muốn dùng phải có sự kê đơn của Bác sĩ- ETC.
Đối với các sản phẩm thuốc dạng OTC (Over the couter- không cần kê đơn): Là các sản phẩm mà người tiêu dùng, bệnh nhân có thể đến các nhà thuốc, hiệu thuốc tự mua hoặc có thể nhận được sự tư vấn của các dược sĩ bán hàng ngay tại quầy bán thuốc. Ngược lại, đối với các sẩn phẩm dược dạng ETC (Ethiscal the couter- thuốc cần phải kê đơn): thì buộc người tiêu dùng phải có đơn của bác sỹ điều trị thì các dược sỹ mới bán hàng. Các sản phẩm thuốc thuộc loại này các bệnh nhân không thể tùy tiện sử dụng khi không có chỉ định của bác sỹ.