CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài luận văn 1. Một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan 1.
Làng nghề Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), cho rằng “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôm, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”. Qua các khái niệm về làng nghề ta thấy rằng quan niệm về làng nghề dần có sự thay đổi, các khái niệm ban đầu về làng nghề còn sơ khai bị bó hẹp trong phạm vi địa lý là “làng” chỉ tập hợp các nhóm hộ nông dân sống ở một làng tham gia sản xuất một loại ngành nghề điển hình là thủ công truyền thống và có vai trò quan trọng đối với thu nhập, đời sống của cộng đồng. Cùng với quá trình phát triển quan niệm về làng nghề đã có sự tách biệt “làng” và “nghề”, trong các làng nghề không chỉ có các cơ sở sản xuất hàng thủ công, mà đã có những cơ sở dịch vụ và ngành nghề phục vụ cho sản xuất,… Các khái niệm trên có thể được coi là cơ sở pháp lý để các cấp quản lý ban hành các chính sách công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống. Làng nghề chè, làng nghề chè truyền thống Quá trình sản xuất, chế biến chè gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp, hoạt động nghề là công đoạn nối tiếp của hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Người trồng chè đồng thời là người sản xuất và chế biến chè (làm nghề). Do vậy, không có sự tách biệt giữa hoạt động sản xuất nông nghiệp và hoạt động nghề. Trên cơ sở kế thừa các khái niệm về làng nghề, tiêu chí công nhận làng nghề, và đặc điểm làng nghề chè, tác giả cho rằng: Làng nghề chè là một làng (xóm) hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn với Luan van -6- đặc trưng đa số cư dân trong làng cùng thực hiện một hoạt động nghề sản xuất và chế biến sản phẩm chè đáp ứng các điều kiện: Có tối thiểu 30% tổng số hộ hoặc số lao động tham gia vào sản xuất và kinh doanh sản phẩm chè; Hoạt động sản xuất kinh doanh chè ổn định tối thiểu 2 năm; Và chấp hành các chính sách của chính quyền địa phương. Làng nghề chè truyền thống là làng nghề chè được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, là nơi có nhiều hộ tham gia hoạt động nghề chè lâu đời với một hoặc nhiều các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nghề.
Như vậy, để làng nghề chè được công nhận là làng nghề truyền thống thì làng nghề chè phải tồn tại và phát triển lâu đời. Nghề chè được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, bên cạnh đó các giá trị truyền thống như các lễ hội, các văn hóa chè phải được bảo tồn và phát huy. Phát triển Theo tác giả Phạm Thị Lý, Nguyễn Thị Yến và cs (2016): Phát triển kinh tế là sự gia tăng về số lượng và sự thay đổi về chất lượng của đời sống kinh tế - xã hội. Phát triển kinh tế và sự tăng lên về cơ sở vật chất và sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao.
Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc. Trong nghiên cứu về kinh tế, khái niệm phát triển thường được gắn với khái niệm phát triển kinh tế. Trong đó, “Phát triển kinh tế là một quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời gian nhất định. Phát triển kinh tế bao hàm các sự tăng trưởng kinh tế tức là tăng về quy mô sản lượng, sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế và sự tiến bộ về xã hội”.
Như vậy, nội dung của phát triển kinh tế gồm: tăng trưởng kinh tế, và những thay đổi về cơ cấu kinh tế và cuộc sống con người cả về lượng lẫn về chất. Tiêu chí công nhận làng nghề chè, đặc điểm và vai trò phát triển bền vững làng nghề chè 1. Tiêu chí công nhận làng nghề chè a) Tiêu chí công nhận nghề truyền thống Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau: - Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; - Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; - Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. Như vậy, để làng nghề chè được công nhận là làng nghề truyền thống thì làng nghề chè phải tồn tại và phát triển lâu đời.
Nghề chè được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, bên cạnh đó các giá trị truyền thống như các lễ hội, các văn hóa chè phải được bảo tồn và phát huy. b) Tiêu chí công nhận làng nghề Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; - Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. c) Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư này. Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn a, b của tiêu chí công nhận làng nghề tại điểm 2, mục I, Phần II nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định của Thông tư này thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống.
Đặc điểm của làng nghề chè Làng nghề chè hiện nay còn khá mởi mẻ trong danh mục các làng nghề Việt. Do quan điểm của nhiều người sản xuất và chế biến chè là hoạt động sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, theo Nghị định 66/2006/NĐ-CP quy định về ngành nghề nông thôn và Thông tư 116/TT-BNN&PTNT về tiêu chuẩn làng nghề thì hoạt động sản xuất và chế biến chè là hoạt động ngành nghề nông thôn (sản xuất và chế biến nông sản) - là hoạt động nghề. Đặc điểm làng nghề chè nhìn chung cũng mang dáng dấp đặc điểm làng nghề Việt Nam và có một số đặc điểm riêng của sản phẩm chè như sau: - Điều kiện sản xuất kinh doanh có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp và nông thôn.
Làng nghề chè bắt nguồn từ các vùng trồng chè và gắn liền với hoạt động sản xuất và chế biến chè. Tại các làng nghề chè, sản xuất nông nghiệp và sản xuất nghề đan xen lẫn nhau, các hộ không chỉ sản xuất và chế biến chè đồng thời làm công việc đồng áng, trồng trọt: trồng lúa nước, trồng rau; làm lâm nghiệp: trồng rừng; hay chăn nuôi: nuôi lợn, nuôi bò, nuôi gà,. Ngoài thời gian làm nghề nhiều gia đình làm thêm nhiều việc để tăng thu nhập: nghề thợ mộc, thợ nề hoặc thợ sơn,… - Đặc điểm về lao động: Lao động làng nghề chè có đặc điểm chung của lao động làng nghề Việt Nam như: lao động thủ công, hầu hết là lao động địa phương, thu hút được nhiều lao động tham gia nghề và hao phí lao động sống chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành sản phẩm, đào tạo nghề thường người thợ phải vừa học, vừa làm và học nghề theo hình thức “cha truyền con nối”,. Tuy nhiên, lao động nghề chè có đặc điểm riêng biệt là lao động chủ yếu là lao động nữ.
Do phần lớn quan điểm của người dân, các công đoạn làm chè từ làm cỏ, hái chè, sao sấy chè đòi hỏi sự tỉ mỉ, cần cù, khóe léo phù hợp với nữ giới, nam giới chủ yếu làm những công đoạn nặng nhọc, nguy hiểm như phun thuốc trừ sâu, đốt lò. Đặc điểm sản xuất chè chủ yếu vẫn theo mùa vụ, vào vụ chính để đảm bảo chất lượng chè khi thu hái đúng đợt một số hộ vẫn thuê lao động, Luan van -9- có thể lao động trong làng hoặc lao động tại vùng lân cận, phần lớn là đổi công giữa các hộ gia đình trong cùng một làng với nhau. Đây là điểm khác biệt giữa lao động làng nghề chè và lao động tại các làng nghề khác. - Nguồn nguyên liệu: Nguồn nguyên liệu của làng nghề chè là chè búp tươi.
Đặc điểm của chè búp tươi thu hái xong phải để nơi râm mát, bỏ trong sọt không nén chặt, không đựng trong bao kín, không để héo và chậm nhất không quá 4 giờ phải đưa đến cơ sở chế biến. Do vậy, sản phẩm của làng nghề chè là những nguyên liệu tại chỗ, nguồn nguyên liệu này phần lớn là do các hộ nghề tự sản xuất ra. Trong khi, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, quy trình chăm sóc vườn chè mỗi vùng, mỗi hộ lại không giống nhau. Vì vậy, chất lượng nguồn nguyên liệu không đồng đều giữa các hộ.
- Đặc điểm về sản phẩm: Sản phẩm làng nghề chè (trà) mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, chủ yếu phục vụ nhu cầu ẩm thực truyền thống. Sản phẩm nghề chè là sự kết tinh nghệ thuật chế biến của các nghệ nhân nghề, tạo nên giá trị chất lượng sản phẩm riêng biệt của mỗi hộ nghề, mỗi làng nghề. Do vậy, mỗi hộ nghề, mỗi làng nghề chè có hương vị đặc trưng khác nhau mà những người thưởng thức “sành” sẽ cảm nhận được. Sản phẩm nghề chè là sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao, được mua bán, trao đổi với sản lượng lớn trên thị trường trong nước và quốc tế, đem lại nguồn lợi kinh tế lớn cho đất nước, cũng như cho người dân ở các làng nghề.
- Đặc điểm về thị trường tiêu thụ sản phẩm: Sản phẩm chè tại các làng nghề là sản phẩm chè xanh đặc sản, thị trường tiêu thụ chủ yếu trong nước thông qua thương lái hoặc bán tại các chợ truyền thống tại địa phương và một phần cho xuất khẩu thông qua doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh chè hoặc HTX chè. Giá cả sản phẩm chè lên xuống theo vụ, chính vụ được mùa thì mất giá và không chính vụ thì giá bán cao hơn. Do vậy, giá cả và thị trường sản phẩm chè thường không ổn định, phụ thuộc vào mùa vụ và phụ thuộc vào tư thương.