phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn được chia làm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thu hút vốn cho đầu tư phát triển kinh tế- xã hội Chƣơng 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2006-2010 Chƣơng 3: Giải pháp thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020. 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN CHO ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Khái niệm về đầu tƣ và vốn đầu tƣ 1. Khái niệm về đầu tư - Một số quan niệm về đầu tư: + Nhà kinh tế học John M.Keynes cho rằng đầu tư là hoạt động mua sắm tài sản cố định để tiến hành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản tài chính để thu lợi nhuận: “Đầu tư, theo cách dùng thông thường là việc cá nhân hoặc Công ty mua sắm một tài sản.
Đôi khi, thuật ngữ này còn bị giới hạn trong việc mua một tài sản tại Sở giao dịch chứng khoán”. Ông có nói đến đầu tư mua tài sản tài chính, song chủ yếu tập trung vào khái niệm đầu tư tạo thêm tài sản vật chất mới (như máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) và để thu về một khoản lợi nhuận trong tương lai: “Khi một người mua hay đầu tư một tài sản, người đó mua quyền để được thu một loạt các khoản lợi tức trong tương lai mà người đó hy vọng giành được qua việc bán sản phẩm do tài sản cố định làm ra.Quan niệm của ông đã nói lên kết quả của đầu tư về hình thái vật chất là tăng thêm tài sản cố định, tạo ra tài sản mới về mặt giá trị, kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra. + Nhà kinh tế học P.A Samuelson cho rằng đầu tư là hoạt động tạo ra vốn ta bản thực sự, theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị và nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho. Đầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nhân lực, nghiên cứu, phát minh…Theo ông trong thuật ngữ tài chính, đầu tư mang một ý nghĩa hoàn toàn khác, dùng để chỉ mua một loại chứng khoán…, đó không phải là đầu tư thực sự của nền kinh tế.
Trên góc độ làm tăng thu nhập cho tương lai, đầu tư được hiểu là “hoạt động kinh tế từ bỏ tiêu dùng hiện nay với 6 z tầm nhìn để tăng sản lượng cho tương lai”, với niềm tin, kỳ vọng thu nhập do đầu tư đem lại sẽ cao hơn các chi phí đầu tư.A Samuelson nêu ra trong các cách tiếp cận về đầu tư đã cho thấy đầu tư là hy sinh tiêu dùng hôm nay để có thu nhập cao hơn trong tương lai và đó là quá trình chứa đựng những rủi ro. Điều đó không chỉ nói lên kết quả của đầu tư mà còn chỉ rõ nguồn gốc của đầu tư trên giác độ cá nhân cũng như trên phạm vi nền kinh tế, thể hiện các mối quan hệ thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư. Đồng thời ông cũng xác định các dạng chính của đầu tư, trong đó bao quát được cả hoạt động đầu tư cho khoa học, kỹ thuật và phát triển con người.Samuelson đã đưa ra khái niệm đầu tư khá đầy đủ.Gordon thì cho rằng đầu tư là đưa thêm sản phẩm cuối cùng vào kho tài sản vật chất sản sinh ra thu nhập của quốc gia hay thay thế các tài sản vật chất cũ đã hao mòn. Đầu tư bao gồm đầu tư tồn kho và đầu tư cố định.
Khái niệm của ông nêu ra đã xem xét đầu tư trên giác độ kết quả của hoạt động đầu tư đem lại cho nền kinh tế trong quá trình tái sản xuất. Ở đây đã nói được đầu tư nhằm mục đích duy trì năng lực của nền kinh tế qua việc thay thế tài sản đã hao mòn. Quan điểm của Gordon đã tiếp cận khái niệm đầu tư trên phạm vi nền kinh tế - xã hội. + Trong cuốn Từ điển kinh tế học hiện đại do D.W Pearce biên soạn thì đưa ra khái niệm: đầu tư là khoản chi tiêu cho các dự án bổ sung vốn vật chất, vốn nhân lực và hàng tồn kho.W Pearce đã tiếp cận khái niệm đầu tư trên góc độ sử dụng vốn cho đối tượng đầu tư cụ thể.
+ Theo từ điển giải nghĩa Tài chính, Đầu tư, Ngân hàng, Kế toán Anh - Việt, NXB KHKT, năm 1999 thì đầu tư là dùng vốn để có được nhiều tiền hơn, hoặc thông qua những phương tiện tạo ra thu nhập (lãi, lợi nhuận) hoặc thông qua những hình thức kinh doanh mạo hiễm có nhiều rủi ro hơn để kiếm 7 z lãi vốn. Quan niệm này đã tiếp cận khái niệm đầu tư dưới góc độ vốn để đem lại vốn nhiều hơn, song chưa phản ánh kết quả đầu tư về hình thái vật chất là tăng thêm năng lực của nền kinh tế. - Qua tìm hiểu các quan niệm về đầu tư, có thể phân biệt một số loại đầu tư như sau: Thứ nhất là đầu tư tài chính: là loại đầu tư, trong đó người ta có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty phát hành. Thứ hai là đầu tư thương mại: là loại đầu tư, trong đó người có tiền bỏ tiền ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi bán.
Thứ ba là đầu tư tài sản vật chất và sức lao động: là loại đầu tư, trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm duy trì và tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng năng lực sản xuất, kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân. Trong đầu tư tài sản vật chất, có đầu tư các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc, thông tin, dịch vụ tài chính, ngân hàng… tạo nền tảng cơ bản cho các hoạt động kinh tế - xã hội. Đó là đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Hay có thể nói đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội bỏ một lượng tiền vào việc tạo mối hay tăng cường cơ sở vật chất, các điều kiện kỹ thuật, phương tiện, thiết chế, tổ chức làm nền tảng cho kinh tế - xã hội phát triển.
Khái niệm này đã phản ánh được khá đầy đủ các đặc điểm của đầu tư kết cấu hạ tầng - kinh tế xã hội. Các đặc điểm đó là. 8 z Một là, hoạt động đầu tư thường sử dụng nhiều nguồn lực tương ứng với các đơn vị đo lường khác nhau, nhưng thường sử dụng đơn vị tiền tệ để biểu hiện. Khi nói đến đầu tư thì thường được biểu hiện bằng tổng số tiền cần chi hoặc đã chi.
Hai là, thời gian kể từ khi bắt đầu thực hiện đầu tư cho đến khi các kết quả của công cuộc đầu tư phát huy tác dụng phải kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định (nhiều năm, tháng). Ba là, chi phí cần thiết cho một công cuộc đầu tư lớn và phải nằm ứ đọng trong suốt quá trình đầu tư. Bốn là, mục đích của đầu tư là sinh lời, kết quả đầu tư mang lại trong tương lai lớn hơn so với chi phí bỏ ra. Khái niệm về vốn đầu tư - Vốn đầu tư là sự biểu hiện bằng tiền các khoản mục chi phí gắn liền với nội dung của các hoạt động đầu tư.
- Để rõ hơn nguồn gốc vốn đầu tư, hay nguồn gốc các khoản tiền bỏ ra đầu tư, ta nghiên cứu bản chất nguồn vốn đầu tư. - Bản chất của nguồn vốn đầu tư: Muốn thực hiện công cuộc đầu tư sản xuất, cần có các yếu tố đầu vào như sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Khoản tiền cần có trang trải các chi phí ứng trước này là vốn đầu tư. Rõ ràng, vốn đầu tư phải lấy từ trong số của cải đã làm ra, sau khi trừ đi phần tiêu dùng.
Trong tác phẩm “Tư bản”, theo Mác, tích luỹ là quy luật của tái sản xuất mở rộng. Để thực hiện tái sản xuất mở rộng, cần tăng cường các yếu tố đầu vào, tức là phải thực hiện đầu tư vốn. Học thuyết của Mác đã khẳng định về cơ bản và lâu dài, vốn đầu tư có được nhờ đẩy mạnh sản xuất và thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu 9 z dùng. Đầu tư phụ thuộc vào tiết kiệm của khu vực tư nhân và tiết kiệm của khu vực Nhà nước; Trong nền kinh tế mở, cùng với nguồn tiết kiệm trong nước, nguồn vốn đầu tư có thể được thu hút từ nước ngoài.
- Qua nghiên cứu về bản chất của nguồn vốn đầu tư, từ đó có thể rút ra khái niệm hoàn chỉnh về vốn đầu tư: Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tiết kiệm của dân cư và vốn thu hút từ các nguồn khác đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì và tạo năng lực mới nền kinh tế - xã hội. Các hình thức đầu tư Hoạt động đầu tư là việc sử dụng vốn để phục hồi và tạo ra năng lực sản xuất kinh doanh mới. Đó là quá trình chuyển hoá vốn thành các yếu tố phục vụ cho quá trình sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ để làm tăng tài sản quốc gia. Hoạt động đầu tư thường được tiến hành dưới hai hình thức: - Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư mà người có vốn tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục tiêu đầu tư cũng như phương thức hoạt động của các lọai vốn mà họ bỏ ra.
Hoạt động đầu tư này có thể được thực hiện dưới các dạng: hợp đồng, liên doanh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. - Đầu tư gián tiếp là hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại hiệu quả cho bản thân người có vốn cũng như cho xã hội, nhưng người có vốn không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư gián tiếp thường được thực hiện dưới dạng: cổ phiếu, tín phiếu… Hình thức đầu tư này thường ít gặp rủi ro hơn so với đầu tư trực tiếp.