Chương 1: Đặc khu kinh tế Thâm Quyến trong công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quôc Chương 2: Tiến trình cất cánh của đặc khu kinh tế Thâm Quyến (1980 - 2002) Chương 3: Tiến trình nâng cấp phát triển, cân bằng kinh tế và môi trường (2002 đến nay) Chương 4: Triển vọng phát triển của đặc khu kinh tế Thâm Quyến và đôi điều suy nghĩ về Việt Nam. CHUONG 1 - ĐẶC KHU KINH TE THÂM QUYEN TRONG CONG CUOC CAI CÁCH MO CUA Ở TRUNG QUOC 1. Sự hình thành, phát triển các đặc khu kinh tế đầu tiên ở Trung Quốc 1. Hoàn cảnh lịch sử Sau kết thúc của mười năm “ Đại cách mạng văn hoá”, các nhà lãnh đạo Trung Quốc luôn trăn trở: làm thế nào để xây dựng một đất nước giàu mạnh? Tất cả họ đều ý thức được rằng phải thay đổi một nền kinh tế lạc hậu, phải thay đổi hiện trạng quản lý hỗn loạn cho khác han với thời kỳ “ Dai cách mạng văn hoá”, nhưng thay đổi bằng phương thức nào đây, đi bằng con đường nào đây? Từ năm 1978 dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình cùng quan điểm “cải cách mở cửa” ông cho rằng: Vấn đề căn bản của Trung Quốc là vấn đề về chế độ, những điều kiện cứng nhắc không hợp lý giữa thể chế và quản lý điều hành chính là trở ngại lớn nhất cho sự tiễn bộ của đất nước Trung Quốc.
Ông cho rằng Trung Quốc phải thực hiện bốn hiện đại hoá: nông nghiệp, công nghiệp, kỹ thuật và quốc phòng, nhất định phải tiến hành cải cách đồng thời phải mở cửa ra bên ngoài. Một quá khứ lâu dài với một nền kinh tế khép kín, với các chính sách như “bế quan toả cảng”. đã khiến Trung Quốc đắm chìm trong giác ngủ sa sút và trì tré trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Đã đến lúc Trung Quốc phải tỉnh dậy dé bắt nhịp với thời cuộc — Hội nghị Trung ương 3 khoá XI DCS Trung Quốc (tháng 12 năm 1978) là thời điểm chính thức thông qua chính sách cải cách mở cửa, đây là một quyết định mang tính lịch sử, là điều kiện tiên quyết cho hướng đi mới mẻ đầy hứa hẹn của đất nước Trung Quốc.
Chiến lược mở cửa của Trung Quốc mang hai nội dung lớn: thi nhất đó là chiến lược xuất nhập khẩu — chiến lược này hoàn toàn thay đổi so với chính sách ngoại thương trước đây là thay thế nhập khẩu; nội dung thir hai là chiến lược mở cửa giao lưu với nước ngoài đề thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài. Muốn thu hút được vốn đầu tư của nước ngoài Trung Quốc nghĩ ngay đến việc phải thành lập các “đặc khu kinh tế” — mặc định các đặc khu kinh tế này sẽ trở thành cửa số giao lưu, thông thương với quốc tế. Chính sách mở cửa của Trung Quốc rất hop lý và hợp thời được thé hiện ở chỗ vào đúng thời điểm đó các nước tư bản đang có dư vốn và kỹ thuật nên họ muốn đi tìm thị trường đề đầu tư trong khi các nước xã hội chủ nghĩa hay các nước đang phát triển thì lạc hậu bảo thủ chưa sẵn sàng cho việc tiếp nhận sự chuyền giao đó. Giữa lúc này, Trung Quốc xuất hiện và sẵn sàng mở cửa đề thu hút vốn và kỹ thuật từ bên ngoài.
Sự trùng khít này đã làm cho cơ hội của Trung Quốc được nhân lên gấp bội. Bên cạnh đó, Trung Quốc còn là một thị trường to lớn với 1,3 tỷ dân, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, với nguồn lao động đồi dào. chính là những lợi thế cạnh tranh và là sức hấp dẫn của Trung Quốc đối với nước ngoài. Tuy nhiên với một đất nước rộng lớn như Trung Quốc thì mọi thứ đều trở lên cồng kềnh khó khăn khi bắt đầu tiến hành cải cách mở cửa.
10 Hon nữa, trình độ phát triển giữa các vùng địa lý ở Trung Quốc cũng không đồng đều ắt dẫn đến việc có nơi lạc hậu không thê tiếp nhận được vốn và kỹ thuật công nghệ từ nước ngoài. Chính vì vậy cần có sự nghiên cứu, suy xét và chọn lọc cho phù hợp với thực tế yếu kém của Trung Quốc lúc bấy giờ. Cũng vào thời điểm này, sự phát triển của Hồng Kông đã khiếnTrung Quốc phải kinh ngạc. Hồng Kông là một trong những trung tâm công nghiệp và dịch vụ mang tầm vóc quốc tế.
Đặng Tiểu Bình mong muốn Trung Quốc sẽ phát triển được nhiều Hồng Kông như thé. Đồng thời, vào cuối những năm 1960 và thập kỷ 1970 cùng với sự ra đời và phát triển của hàng trăm khu kinh tế tự do trên thé giới đã tác động mạnh tới ý đồ của các nhà cam quyền Trung Quốc. Họ tìm tòi để nghiên cứu và thành lập ra các vùng kinh tế để phù hợp cho tình hình Trung Quốc lúc bấy giờ. Với tat cả những nguyên nhân trên, tháng 4 năm 1979, trong một cuộc hop Trung ương DCS Trung Quốc đã quyết định xây dựng một vài vùng kinh tế phát triển thử nghiệm, đó chính là các đặc khu kinh tế.2 Diễn biến xây dựng và phát triển của các đặc khu kinh tế dau tiên Đặc khu kinh tế (Special Economic Zone - SEZ) — theo cách hiểu tương đối thống nhất là vùng đất được khoanh lại trong một quốc gia hay khu vực, hưởng các chính sách và chế độ ưu đãi đặc biệt trong quy định của hién pháp và pháp luật, nhằm thu hút nguồn vốn, công nghệ và phương pháp quản lý tiên tiến của nước ngoài, phát triển các ngành sản xuắt, kinh doanh, dịch vụ theo mô hình hướng ngoại.
Tính chất tổ chức cao của đặc khu kinh tế còn được thé hiện qua mô hình “khu trong khu” tức là trong đặc khu kinh tế gồm có nhiều loại hình khu khác nhau như khu công nghiệp, khu thương mại tự do, cảng tự do, khu chế xuất, kho chứa hàng miễn thuế [3. Với cách tô II chức liên kết hoàn chỉnh như vậy đã tạo nên một bức tranh tổng thể thống nhất thúc đây sự phát triển của đặc khu kinh tế và góp phần thu hút mạnh vốn đầu tư từ nước ngoài. Đặc khu kinh tế Trung Quốc là một khu vực địa lý được ngăn cách với bên ngoài bởi hai hàng rào quan lý: thir nhất đó là hàng rào quan lý quan hệ giữa đặc khu kinh tế với thị trường thé giới, thi hai là hàng rào ngăn cách đặc khu kinh tế với thị trường nội địa thông qua sự kiểm soát chặt chẽ của lực lượng hải quan. Các nha cam quyền Trung Quốc lúc bay giờ quyết tâm thành lập các đặc khu kinh tế với những mục đích và ý nghĩa cơ bản như sau: I- Xây dựng các đặc khu thành khu vực điển hình, những mô hình mau với mục tiêu đem những mô hình đã được thử nghiệm thành công đem nhân rộng ra các vùng khác.
Chính những đặc khu kinh tế này đã mở ra một hướng đi mới “một mũi tên trúng hai đích”. Đó là vừa mở cửa thu hút được vốn đầu tư của nước ngoài, thu hút được thiết bi kỹ thuật tiên tiến và phương pháp quản lý khoa học, mặt khác vẫn giữ được hình thái ý thức xã hội chủ nghĩa, từng bước xây dựng đặc khu thành những vùng tiên tiến có nền văn minh vật chất và tinh than cao tạo ảnh hưởng tốt cho công cuộc xây dựng XHCN. Một quốc gia theo CNXH không có nghĩa là đóng cửa bảo thủ không quan hệ với các nước tư ban chủ nghĩa. Lãnh đạo Đặng Tiểu Binh đã từng nói: “Thé giới hiện nay là thé giới mở cửa.
kinh nghiệm hai ba mươi năm trước đây nói với chúng ta rằng đóng kín cửa lại thì không thể xây dựng, không thể phát triển được. Chúng ta phải phát triển nhanh một chút, nhanh quá thì sẽ không phi hợp với thực tế, nhưng phải nhanh một chút, làm sống động nên kinh tế bên trong, thực hiện chính sách mở cua với bên ngoài” [29, tr. Mô hình XHCN mới ở Trung Quốc đó là tận dụng, khai thác nguồn vốn khoa học kỹ thuật, phương thức quản lý từ các nước tư bản chủ nghĩa để phát triển kinh tế trong nước nhưng về tư tưởng thì vẫn giữ vững đường lối xã hội chủ nghĩa. 12 Mô hình đặc khu kinh tế chính là công cụ để Trung Quốc thực hiện chủ trương của mình cũng chính là khao khát mà các nước XHCN đang kiếm tìm.
2- Ý nghĩa thứ hai mà đặc khu kinh tế đem lại chính là thúc đây xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư, thiết bị khoa học kỹ thuật, phương pháp quản lý tiên tiến từ nước ngoài. Những yếu tố này đều đang rất cần đối với các nước đang phát triển như Trung Quốc. Sự thành công của đặc khu một mặt nào đó được đánh giá bằng hoạt động xuất nhập khẩu có nhộn nhịp hay không, có thu hút được nhiều vốn đầu tư hay không? Vi vậy các cấp chính quyên quản lý đặc khu và đặc biệt là ban quản lý đặc khu phải dồn mọi nỗ lực mọi biện pháp dé xúc tién xuất khẩu va hấp dẫn các nha dau tư nước ngoài. Xuất khẩu nhiều va thu hút được mạnh đầu tư từ nước ngoài sẽ thu được nhiều ngoại tệ, điều này sẽ làm cho bộ mặt của các đặc khu kinh tế từ những làng chài nghèo được thay đổi.
Đồng thời xuất khâu phát triển, đầu tư nước ngoài lớn sẽ dẫn đến việc nâng cao được tổng thu nhập quốc dân GDP và tỉ lệ tăng trưởng của cả nên kinh tê. 3- Đặc khu kinh tế là khu vực dé thử nghiệm những chính sách và cơ chế mới sao cho phù hợp với nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên vấn đề nhức nhối mà các nhà hoạch định chính sách đưa ra là mở cửa đến mức độ nào, mở cửa từ từ kiểu “đò đá qua sông” hay mở cửa 6 ạt khắp cả nước? Lý thuyết đã chỉ ra không ít các mặt hạn chế của nền kinh tế thị trường cho nên nếu mở cửa ồ ạt trên diện rộng sẽ là liều lĩnh và nguy hiểm và thậm chí còn có thể phải nhận lấy thất bại. Trên một phạm vi nhỏ hẹp có quy mô như một nền kinh tế quốc dân việc thử nghiệm cải cách các chính sách sẽ đưa ra được những kinh nghiệm bai học quý báu trước khi dem áp dụng rộng rãi.
Các đặc khu lay sự điều tiết của thị trường làm chính nhằm đạt được sự tồn tại trong cạnh tranh tự 13 do trên trường quốc tế. Việc vận dụng các quy luật của kinh tế thị trường và các đòn bẩy về kinh tế trong các mục đích chung của xã hội sẽ thu được về nhiều kinh nghiệm xương máu.