Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế biển của một vùng/quốc gia Chương 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng phát triển KT biển ở huyện đảo Cô Tô - Quảng Ninh Chương 4.
Giải pháp phát triển Kinh tế biển của huyện đảo Cô Tô- Quảng Ninh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 1. Một số vấn đề chung về KT biển 1. Kinh tế biển 1. Khái niệm biển Mặt nƣớc bao la liền một dải của đại dƣơng Thế giới chiếm 70,8% diện tích bề mặt hành tinh của chúng ta.
Tên gọi “đại dƣơng” bắt nguồn từ tên riêng của con sông thần thoại Okêan. Theo sự tƣởng tƣợng của ngƣời Babylon và ngƣời Ai Cập vào thời kỳ văn hóa sơ khai, con sông này bao quanh các đất nổi mà hình dạng nhƣ một cái đĩa bằng phẳng. Sự phát triển của ngành hàng hải dần dần cho thấy rõ ràng không phải là một con sông bao quanh các lục địa, nhƣng tên riêng của con sông thần thoại ấy vẫn còn lại. Khi có sự thâm nhập của lục địa vào đại dƣơng thì các đảo và bán đảo đƣợc hình thành và ngƣợc lại, khi có sự thâm nhập của đại dƣơng vào lục địa thì các biển, vịnh và eo biển đƣợc hình thành.
Biển là một bộ phận biệt lập của đại dƣơng. Nó đƣợc phân biệt bởi những đặc điểm tự nhiên, chủ yếu là bởi những đặc điểm thủy văn và khí hậu. Nó có thể nằm giữa hai lục địa, ăn sâu vào lục địa hoặc tách ra khỏi đại dƣơng bởi các bán đảo, đảo và địa hình ngầm. Tùy thuộc vào đặc tính của sự tiếp xúc giữa lục địa và đại dƣơng, các biển đƣợc phân chia thành ba nhóm: - Các biển giữa các lục địa.
Các biển này đƣợc bố trí giữa hai lục địa. Cần chú ý rằng các biển giữa các lục địa nằm ở các vòng đai đứt gãy của vỏ Trái đất, cho nên những nét đặt trƣng của các biển này là sự chia cắt mạnh mẽ của đƣờng bờ, sự chênh lệch rõ rệt của độ sâu, hoạt động địa chấn và hoạt động núi lửa mạnh mẽ. - Các biển trong lục địa. Các biển này ăn sâu vào trong lục địa, nằm ở thềm lục địa và có độ sâu không lớn.
- Các biển rìa lục địa. Các biển này đƣợc tách ra khỏi đại dƣơng bởi các quần đảo hay bán đảo, đƣợc nối với các đại dƣơng trên những tuyến rộng. Các biển này đƣợc bố trí hoặc là ở thềm lục địa với độ sâu nhỏ, hoặc là ở sƣờn lục địa với sự tăng nhanh đến độ sâu của đại dƣơng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 5 Vị trí địa lý của biển quy định về nhiều mặt chế độ thủy văn của nó.
Các biển trong lục địa ít liên quan với đại dƣơng, cho nên độ mặn của nƣớc, chế độ của các dòng biển và của thủy triều ở các biển này khác biệt rõ rệt so với đại dƣơng. Khái niệm kinh tế biển Từ xa xƣa, con ngƣời đã biết dựa vào biển để khai thác các tài nguyên biển: Trên mặt nƣớc biển (dựa vào biển để di chuyển hàng hóa, giao lƣu kinh tế, phát triển du lịch biển,…), tài nguyên trong lòng biển (đánh bắt, nuôi trồng hải sản, rong biển, tảo biển,…), tài nguyên dƣới lòng đại dƣơng (khai thác dầu khí, khai khoáng,…), phát triển kinh tế ven biển để phục vụ khai thác biển (chế biến hải sản, phát triển dịch vụ hậu cần cho khai thác biển, phát triển các khu kinh tế biển,…). Tất cả các hoạt động kinh tế trên đều đƣợc coi là hoạt động kinh tế biển. Bên cạnh những nội dung trên thì khái niệm kinh tế biển cũng có thể đƣợc hiểu theo nhiều khía cạnh, có tài liệu cho rằng: “Kinh tế biển là hoạt động kinh tế có ba lợi ích kinh tế phục vụ con ngƣời rõ ràng nhất là vận tải đƣờng biển, khai thác nguồn tài nguyên phong phú của biển và du lịch, viễn thông”[9].
Còn theo tài liệu nghiên cứu về kinh tế biển của Đà Nẵng thì cho rằng: “Kinh tế biển là sự kết hợp hữu cơ giữa các hoạt động kinh tế trên biển với các hoạt động kinh tế trên đất liền, trong đó biển chủ yếu đóng vai trò khai thác nguyên liệu, cho hoạt động vận tải, hoạt động du lịch trên biển, còn hầu hết các hoạt động tổ chức sản xuất, chế biển, hậu cần dịch vụ phục vụ khai thác biển lại nằm trên đất liền. Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật trong mấy thập kỷ gần đây cho phép con ngƣời có thể khai thác, sử dụng nhiều loại tài nguyên thiên nhiên của biển và đại dƣơng”. Bùi Tất Thắng trong bài viết về “Chiến lƣợc kinh tế biển: Cách tiếp cận và những nội dung chính” thì cho rằng khái niệm kinh tế biển vẫn là khái niệm còn chƣa có sự thống nhất. Tuy nhiên, trên thực tế, trong phân tích và thống kê kinh tế, việc quy ƣớc nội dung kinh tế biển lại không phải vấn đề gây nhiều tranh cãi về mặt học thuật.
Về cơ bản, kinh tế biển là khái niệm mang tính thực tiễn, nghĩa là ngƣời ta có thể không tranh cãi nhiều về bản thân các ngành nghề thuộc kinh tế biển, mà phần phải bàn cãi nhiều hơn lại thuộc về lĩnh vực liên quan và không phải diễn ra trên biển. Do tính đặc thù của môi trƣờng biển, mọi hoạt động kinh tế biển đều liên quan mật thiết và đƣợc quyết định từ trong đất liền, nên không Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 6 thể nói về kinh tế biển mà không tính tới những hoạt động kinh tế liên quan đến biển ở vùng duyên hải. Khái niệm về kinh tế biển, cho tới nay, vẫn chƣa có sự thống nhất. Tuy nhiên, các khái niệm về kinh tế biển của trong nƣớc và nƣớc ngoài đƣa ra nhìn chung vẫn coi kinh tế biển là các hoạt động có liên quan tới biển.
Phát triển kinh tế biển đƣợc hiểu là một trong những nội dung quan trọng trong phát triển kinh tế tổng thể quốc gia. Nó thể hiện tầm nhìn dài hạn “hƣớng ra biển” của quốc gia đó nhằm thúc đẩy hoạt động kinh tế biển lên tầm tƣơng xứng với tiềm năng của biển. Từ những phân tích trên, tôi cho rằng: Kinh tế biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển (tuy không phải diễn ra trên biển nhƣng hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển). Đặc điểm, vai trò kinh tế biển 1.
Đặc điểm Kinh tế biển luôn mang những tính chất kinh tế đặc thù, mang tính chất đa ngành, đa lĩnh vực: Bao gồm nhiều ngành, nghề khác nhau, có quan hệ tác động qua lại lệ thuộc lẫn nhau. Vai trò kinh tế biển Biển có vai trò to lớn trong phát triển kinh tế của quốc gia nói riêng và của thế giới nói chung. Lịch sử thế giới đã cho thấy, những quốc gia hùng mạnh trên thế giới đều bắt nguồn từ những quốc gia - biển, nhƣ Ý thế kỷ XIV – XV, Anh thế kỷ XVII-XVIII, Nhật Bản nửa cuối thế kỷ XX. Do đó, ngày nay, trên thế giới ngƣời ta coi “Thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dƣơng”.
Thứ 1: Kinh tế biển là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy nền kinh tế của đất nước Thực hiện chủ trƣơng phát triển kinh tế biển của Đảng và Nhà nƣớc, trong những năm qua, cùng với việc đẩy mạnh quá trình đổi mới và mở cửa, các lĩnh vực kinh tế biển cũng đƣợc tăng cƣờng và đã thu đƣợc những kết quả rất đáng khích lệ. So với thời kỳ trƣớc, kinh tế biển của Việt Nam trong giai đoạn đổi mới vừa qua đã có bƣớc chuyển biến đáng kể. Kinh tế biển đóng vai trò đặc biệt quan trọng đóng góp cho tăng trƣởng và phát triển kinh tế của cả nƣớc. Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển tăng lên, cơ cấu ngành, nghề có thay đổi cùng với sự xuất hiện ngành kinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 7 tế mới nhƣ khai thác dầu khí, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn…Năm 2005, GDP của kinh tế biển và vùng ven biển bằng 48 % GDP cả nƣớc.
Năm 2013, GDP của kinh tế biển và vùng ven biển bằng 46% GDP cả nƣớc, trong đó, GDP của kinh tế biển chiếm khoảng gần 22% tổng GDP cả nƣớc. Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, trong đó khai thác dầu khí chiếm 64%; hải sản 14%; hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển) hơn 11%; du lịch biển hơn 9% [18]. Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển nhƣ đóng tàu, sử chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thuỷ sản, hải sản, thông tin liên lạc…bƣớc đầu phát triển, nhƣng hiện tại quy mô còn rất nhỏ bé (chỉ chiếm khoảng 2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP cả nƣớc). Công nghiệp tàu biển: Trình độ, năng lực đóng, sửa chữa tàu so với trƣớc đây đã có tiến bộ vƣợt bậc, hiện đại hoá một bƣớc theo hƣớng tập trung quy mô lớn, bƣớc đầu có phân công chuyên môn hoá, vƣơn ra đóng tàu cỡ lớn, chuyên dùng đạt chất lƣợng đăng kiểm quốc tế.
Một số doanh nghiệp đang đầu tƣ lớn hiện đại để đóng tàu lớn (3 - 5 vạn tấn). Liên doanh Vinashin - Huyndai đã chính thức đi vào hoạt động, đã xây dựng đƣợc 2 ụ tàu có thể sữa chữa tàu từ 50. Cơ cấu ngành nghề đang có sự thay đổi lớn. Ngoài các ngành nghề truyền thống, đã xuất hiện nhiều ngành kinh tế biển gắn với công nghệ - kỹ thuật hiện đại, ngành công nghiệp khai thác dầu khí phát triển kéo theo sự phát triển của một số ngành khác nhƣ công nghiệp hoá dầu, giao thông vận tải biển, đánh bắt xa bờ, du lịch biển - đảo và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn.thƣơng mại trong nƣớc và khu vực.
Việc khai thác nguồn lợi biển đã có đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nƣớc, nhất là cho xuất khẩu (dầu khí, hải sản. Kinh tế biển đã đƣợc chú ý hơn và các công việc về biển đã làm đƣợc nhiều hơn (hoạch định biên giới trên biển, ban hành khung luật pháp, phát triển các hải đảo kết hợp bảo vệ quốc phòng, an ninh trên biển).