Tổng quan nghiên cứu

Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch cùng áp lực giảm phát thải khí nhà kính đang thúc đẩy các quốc gia tái cơ cấu nguồn năng lượng. Tại Việt Nam, theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011–2020 có xét đến năm 2030 (Tổng sơ đồ điện VII), nhu cầu năng lượng phục vụ tăng trưởng kinh tế từ 7,5% đến 8,0% đòi hỏi nguồn cung điện phải tăng từ 15% đến 17% mỗi năm. Mục tiêu đặt ra là nâng tổng công suất nguồn điện gió từ mức khởi điểm không đáng kể lên khoảng 1.000 MW vào năm 2020 và đạt 6.200 MW vào năm 2030, chiếm 2,4% tổng sản lượng điện cả nước.

Tuy nhiên, phát triển phong điện đòi hỏi nguồn vốn đầu tư ban đầu rất lớn và công nghệ phức tạp. Mô hình Xây dựng – Sở hữu – Kinh doanh (Build – Own – Operate, viết tắt là BOO) thuộc cơ chế hợp tác công tư (PPP) trở thành hướng đi chiến lược nhằm thu hút nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân. Nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng phát triển kinh doanh theo hình thức BOO tại Công ty TNHH Một thành viên Năng lượng Tái tạo Việt Nam (REVN) – chủ đầu tư dự án Phong điện 1 – Bình Thuận quy mô 30 MW nối lưới đầu tiên của cả nước, giai đoạn từ năm 2008 đến tháng 6/2013 và định hướng đến năm 2020.

Mục tiêu trọng tâm của đề tài là đánh giá hiệu quả phát triển kinh doanh theo cả chiều rộng (mở rộng quy mô công suất, gia tăng số lượng dự án) lẫn chiều sâu (cải tiến công nghệ tua bin, tối ưu vận hành O&M, kiểm soát tiếng ồn). Nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc giải quyết điểm nghẽn về giá bán điện 7,8 UScent/kWh thời điểm đó so với mức kỳ vọng 12 đến 14 UScent/kWh, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế đối tác công tư cho ngành năng lượng tái tạo Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết đối tác công tư (PPP) quy định tại Nghị định 108/2009/NĐ-CP, Quyết định 71/2010/QĐ-TTg và Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11. Trong đó, mô hình BOO được định nghĩa là hình thức đầu tư mà doanh nghiệp tư nhân tự huy động vốn để xây dựng, nắm quyền sở hữu và vận hành công trình độc lập, được hưởng các chính sách ưu đãi tài chính của Nhà nước mà không phải chuyển giao lại cho Chính phủ sau khi kết thúc chu kỳ dự án.

Lý thuyết phát triển kinh doanh của đề tài được tiếp cận toàn diện qua hai trục:

  1. Phát triển theo chiều rộng: Thể hiện qua sự gia tăng số lượng dự án đầu tư và tổng công suất lắp đặt (tính bằng MW).
  2. Phát triển theo chiều sâu: Thể hiện qua đổi mới công nghệ tua bin tiên tiến, giảm phát thải tiếng ồn ra môi trường sống xung quanh và nâng cao sản lượng điện phát thực tế (GWh/năm).

Khung quy trình phát triển kinh doanh BOO điện gió gồm 7 giai đoạn liên hoàn: Nghiên cứu cơ hội đầu tư, Nghiên cứu tiền khả thi, Nghiên cứu khả thi và cấp phép, Triển khai thi công xây lắp, Vận hành khai thác thương mại, Đánh giá hiệu quả định kỳ, và Kết thúc hoặc mở rộng dự án. Hoạt động này chịu sự chi phối chặt chẽ của các nguyên tắc can thiệp bằng chính sách trợ giá của Nhà nước, tính chủ động tài chính của khối tư nhân và sự đồng bộ với hạ tầng lưới truyền tải điện 110kV–220kV khu vực.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu kỹ thuật sơ cấp nội bộ. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo của Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Năng lượng Quốc tế (IEA), Viện Năng lượng và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Dữ liệu sơ cấp được trích xuất từ hồ sơ quản lý dự án, báo cáo tài chính kiểm toán và nhật ký vận hành kỹ thuật tại 4 phòng ban chuyên môn của REVN.

Cỡ mẫu khảo sát bao gồm toàn bộ 20 tổ máy tua bin gió thuộc Dự án Phong điện 1 – Bình Thuận (công suất 1,5 MW/tua bin, tổng 30 MW) cùng chuỗi dữ liệu đo gió liên tục ở các độ cao 40m và 60m tại hai khu vực trọng điểm Bình Thuận và Ninh Thuận qua 66 tháng (từ tháng 01/2008 đến tháng 06/2013). Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng vì REVN là doanh nghiệp tư nhân tiên phong duy nhất tại thời điểm nghiên cứu sở hữu trang trại phong điện quy mô công nghiệp hòa lưới quốc gia.

Các phương pháp phân tích chính bao gồm phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian, phân tích tỷ số tài chính (tỷ suất sinh lời nội tài FIRR, lợi nhuận trên tài sản ROA, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE) và phương pháp đánh giá định lượng tổn thất sản lượng. Việc lựa chọn phương pháp này giúp phản ánh chính xác hiệu quả vận hành thực tế của trang thiết bị và đánh giá mức độ hấp dẫn tài chính của dự án hạ tầng trong điều kiện chính sách biến động.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã làm rõ bức tranh thực trạng phát triển kinh doanh BOO của REVN giai đoạn 2008 – tháng 6/2013 với bốn phát hiện then chốt:

Thứ nhất, về phát triển quy mô (chiều rộng), REVN đã phát triển thành công từ 0 dự án lên 2 dự án điện gió lớn. Doanh nghiệp đã đưa vào vận hành thương mại 30 MW giai đoạn 1 tại Tuy Phong (Bình Thuận), chiếm tới 65,2% trong tổng số 46 MW điện gió hòa lưới của toàn quốc tính đến năm 2013, đồng thời xúc tiến triển khai mở rộng 120 MW giai đoạn tiếp theo.

Thứ hai, về năng lực vận hành và công nghệ (chiều sâu), dự án đã ứng dụng tua bin hiện đại có khả năng kiểm soát độ ồn dưới ngưỡng 45 dB tại ranh giới khu dân cư. Tuy nhiên, sản lượng điện 6 tháng đầu năm 2013 ghi nhận sự sụt giảm từ 18% đến 25% so với cùng kỳ các năm trước do một số tổ máy phải dừng hoạt động dài ngày để chờ phụ tùng thay thế và chuyên gia nước ngoài sang xử lý sự cố.

Thứ ba, về hiệu quả tài chính, cơ chế giá mua điện 7,8 UScent/kWh theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thấp hơn từ 35% đến 44% so với mức dự toán hòa vốn tối thiểu 12 đến 14 UScent/kWh. Điều này khiến doanh thu bán điện của nhà máy không đủ bù đắp chi phí lãi vay thương mại (thời điểm 2008–2011 lãi suất ngân hàng lên tới 14%–16%/năm), kéo dài thời gian hoàn vốn thực tế của dự án lên trên 15 năm.

Thứ tư, về chuỗi cung ứng phụ trợ, mức độ nội địa hóa thiết bị của dự án đạt dưới 10%. Doanh nghiệp buộc phải tự bỏ vốn đầu tư đồng bộ hệ thống xe cẩu chuyên dụng và thiết bị siêu trường siêu trọng trị giá hàng triệu USD, dẫn đến chi phí cố định tăng cao nhưng hiệu suất khai thác tài sản chuyên dùng chưa tối ưu khi mới chỉ phục vụ cho 2 dự án nội bộ.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu về mối tương quan giữa sản lượng điện phát thực tế và tổn thất doanh thu có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ đường kết hợp biểu đồ cột so sánh sản lượng kế hoạch và sản lượng hòa lưới thực tế qua 5 năm. Đồng thời, một bảng phân rã cơ cấu vốn đầu tư cho thấy chi phí mua sắm thiết bị tua bin chiếm từ 65% đến 70% tổng mức đầu tư, trong khi chi phí xây lắp móng và đường nội bộ chiếm khoảng 15% đến 20%.

Cơ cấu chi phí đầu tư dự án điện gió BOO (ước tính từ thực tiễn REVN):
+------------------------------------------+------------+
| Hạng mục chi phí                         | Tỷ trọng   |
+------------------------------------------+------------+
| Tua bin và thiết bị công nghệ chính      | 65% - 70%  |
| Xây lắp dân dụng, trụ móng và hạ tầng    | 15% - 20%  |
| Đấu nối truyền tải và trạm biến áp       | 8% - 10%   |
| Quản lý dự án, đền bù và chi phí khác    | 5% - 7%    |
+------------------------------------------+------------+

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế bắt nguồn từ cả hai phía. Về mặt khách quan, ngành công nghiệp phụ trợ năng lượng gió trong nước còn sơ khai, thiếu trung tâm kiểm định và phụ tùng sẵn có; cơ chế trợ giá của Nhà nước chưa theo kịp biến động kinh tế vĩ mô. Về mặt chủ quan, REVN gặp rủi ro do dự báo chính sách giá mua điện thiếu chuẩn xác, năng lực tự chủ bảo dưỡng O&M của đội ngũ kỹ sư trong nước còn hạn chế, dẫn đến phụ thuộc sâu vào nhà thầu nước ngoài.

So với các nước phát triển như Đan Mạch (đóng góp 3,1% GDP từ công nghệ năng lượng tái tạo) hay Trung Quốc (chi 34,6 tỷ USD đầu tư năng lượng sạch năm 2009 nhờ cơ chế giá ưu đãi linh hoạt), thị trường điện gió BOO tại Việt Nam thời điểm 2013 chịu nhiều tổn thương do thiếu khung bảo lãnh rủi ro tài chính và cơ chế chia sẻ gánh nặng hạ tầng đấu nối.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và mục tiêu phát triển đến năm 2020, hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm:

Thứ nhất, đẩy mạnh nội địa hóa từng phần thiết bị tua bin gió. REVN cần chủ động liên kết với các đơn vị cơ khí chế tạo trong nước để sản xuất thân trụ tháp, cánh đón gió và hệ thống cáp điện, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa từ dưới 10% lên mức 30% đến 40% vào năm 2020. Giải pháp này giúp cắt giảm từ 15% đến 20% tổng chi phí đầu tư thiết bị cho các dự án 120 MW tiếp theo.

Thứ hai, thành lập Trung tâm dịch vụ kỹ thuật, bảo dưỡng và sửa chữa (O&M) phong điện khu vực tại Bình Thuận trong giai đoạn 2014–2016. Trung tâm có nhiệm vụ đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ kỹ sư nội bộ, dự trữ linh kiện thay thế và tối ưu hóa hệ thống máy móc siêu trường siêu trọng sẵn có. Mục tiêu là rút ngắn thời gian dừng máy do sự cố từ 30 ngày xuống dưới 5 ngày, tiết kiệm tối thiểu 25% chi phí vận hành hàng năm.

Thứ ba, tái cấu trúc nguồn vốn và tìm kiếm đối tác liên doanh chiến lược. Ban lãnh đạo doanh nghiệp cần đàm phán hợp tác với các tập đoàn năng lượng quốc tế để chia sẻ rủi ro đầu tư, đồng thời tiếp cận các gói tài trợ tín dụng xanh (ODA, quỹ biến đổi khí hậu) với lãi suất ưu đãi dưới 5%/năm trong giai đoạn 2014–2018.

Thứ tư, kiến nghị Chính phủ và Bộ Công Thương điều chỉnh cơ chế mua bán điện. Cần sớm ban hành khung giá mua điện gió mới ở mức từ 9,5 đến 10,5 UScent/kWh cho các dự án trên đất liền, áp dụng hợp đồng mua bán điện mẫu chuẩn quốc tế (PPA 20 năm có cam kết bao tiêu sản lượng) nhằm tạo điều kiện cho các chủ đầu tư BOO tiếp cận nguồn vốn vay thương mại quốc tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  1. Các nhà đầu tư và doanh nghiệp phát triển dự án năng lượng tái tạo: Cung cấp bài học thực tiễn về cấu trúc tài chính dự án BOO quy mô 30 MW đến 120 MW, phương pháp quản trị rủi ro chuỗi cung ứng thiết bị và tối ưu hóa chi phí O&M.
  2. Các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại: Cung cấp bộ tiêu chí và thông số kỹ thuật (hệ số công suất tua bin, vận tốc gió bình quân, suất đầu tư/MW) phục vụ công tác thẩm định rủi ro cho vay các dự án phong điện.
  3. Cơ quan quản lý nhà nước và viện nghiên cứu chính sách: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ góc độ doanh nghiệp tiên phong để tham mưu, điều chỉnh biểu giá FIT và hoàn thiện thể chế đầu tư PPP trong lĩnh vực hạ tầng năng lượng.
  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kinh doanh quốc tế, Quản trị dự án: Đóng vai trò là case study thực tế chuẩn mực về hoạch định chiến lược kinh doanh và chuyển giao công nghệ cao tại thị trường mới nổi.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm khác biệt cốt lõi giữa hình thức BOO và BOT trong đầu tư điện gió là gì? Trong mô hình BOT (Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao), nhà đầu tư phải chuyển giao toàn bộ công trình cho Nhà nước sau thời hạn hợp đồng (khoảng 20–25 năm). Ngược lại, ở mô hình BOO (Xây dựng – Sở hữu – Kinh doanh), doanh nghiệp giữ quyền sở hữu vĩnh viễn tài sản và có toàn quyền nâng cấp, thay thế tua bin để tiếp tục kinh doanh sau khi kết thúc chu kỳ khấu hao.

  2. Tại sao mức giá mua điện 7,8 UScent/kWh giai đoạn 2011–2013 chưa kích thích được thị trường? Suất đầu tư điện gió thời điểm 2008–2013 rất cao, dao động từ 2,0 đến 2,2 triệu USD cho mỗi MW. Với mức giá bán 7,8 UScent/kWh và lãi suất vay ngân hàng trên 14%/năm, tỷ suất sinh lời nội tài FIRR của dự án chỉ đạt dưới 6%, không đủ bù đắp chi phí rủi ro và trả nợ gốc lãi cho ngân hàng.

  3. Những chỉ tiêu nào dùng để đo lường mức độ phát triển kinh doanh điện gió theo chiều sâu? Đề tài xác định 3 chỉ tiêu chiều sâu chính: mức độ gia tăng sản lượng điện phát thực tế hàng năm (GWh), tỷ lệ suy giảm sự cố kỹ thuật của tua bin (thể hiện qua số giờ dừng máy O&M), và mức độ giảm thiểu phát thải tiếng ồn cùng tác động môi trường sinh thái khu vực dự án.

  4. Tiêu chuẩn vận tốc gió nào quyết định tính khả thi của một dự án phong điện BOO? Một địa điểm đạt chuẩn kinh tế để đầu tư điện gió quy mô lớn cần có vận tốc gió bình quân năm ở độ cao 60m–80m đạt từ 6,0 m/s trở lên. Vận tốc gió lý tưởng để tua bin vận hành hết công suất thiết kế là từ 11 m/s đến 25 m/s và không có bão giật trên 50 m/s.

  5. Doanh nghiệp BOO có thể áp dụng giải pháp nào để ứng phó với rủi ro phụ tùng nhập khẩu? Doanh nghiệp cần liên kết thành lập trung tâm sửa chữa dùng chung giữa các chủ đầu tư, xây dựng kho dự phòng linh kiện tiêu chuẩn (vòng bi, bo mạch điều khiển) và chủ động ký hợp đồng dịch vụ dài hạn với các nhà sản xuất tua bin gốc kèm điều khoản chuyển giao kỹ thuật cho nhân sự bản địa.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa khung lý thuyết và quy trình 7 bước phát triển kinh doanh theo mô hình BOO trong ngành công nghiệp điện gió tại Việt Nam.
  • Khảo cứu thực chứng toàn diện tại REVN – đơn vị sở hữu nhà máy Phong điện 1 – Bình Thuận công suất 30 MW gồm 20 tổ máy hòa lưới đầu tiên của cả nước.
  • Xác định nguyên nhân cốt lõi gây sụt giảm sản lượng và hiệu quả tài chính là do cơ chế giá FIT 7,8 UScent/kWh chưa tương xứng và sự phụ thuộc hơn 90% vào thiết bị ngoại nhập.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược đến năm 2020: nâng tỷ lệ nội địa hóa lên 30%–40%, vận hành trung tâm bảo dưỡng O&M chuyên nghiệp, tái cơ cấu vốn tín dụng xanh và kiến nghị giá mua điện 9,5–10,5 UScent/kWh.
  • Công trình mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về mô hình kinh doanh điện gió ngoài khơi (offshore wind) và các cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp (DPPA) trong bối cảnh thị trường điện cạnh tranh.