CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm học liệu a) Học liệu và phân loại học liệu Hiện nay, ở Việt Nam thuật ngữ “học liệu” được ngày càng trở nên phổ biến, thường xuyên xuất hiện trong các bài viết, báo cáo khoa học, có nhiều trung tâm nghiên cứu và sản xuất học liệu. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn có nhiều quan điểm, nhiều cách phân chia khác nhau, chưa thống nhất về thuật ngữ “học liệu”. Theo từ điển Greenwood: “học liệu là những vật thể được sử dụng để giúp cho việc truyền thụ kiến thức hoặc phát triển KN.
Ví dụ như sách giáo khoa, các nguồn tài liệu nghe nhìn, các chương trình máy tính và thiết bị thí nghiệm” (trang 181), trong đó không kể các thiết bị bổ trợ. Trong tiếng Anh học liệu được dùng bằng thuật ngữ “courseware”, có thể hiểu đó là các tài liệu dạy và học bằng điện tử, gắn với dạy học trên máy tính và trên mạng. Bên cạnh đó, trong tiếng Anh còn có một số thuật ngữ khác được sử dụng có liên quan đến quan niệm học liệu đó là: Teaching materials (tài liệu giảng dạy, learning materials (tài liệu học tập), Instructional materials (tài liệu dạy học),. Có thể hiểu, học liệu là các phương tiện vật chất lưu giữ, mang hoặc phản ánh nội dung học tập, nghiên cứu.
Học liệu có thể sử dụng dưới dạng truyền thống (tranh ảnh, ảnh dạng thẻ) và học liệu điện tử. Học liệu có nhiều loại. Với tư cách là PTDH, mỗi loại học liệu có những tính năng nổi trội và thế mạnh riêng. Căn cứ vào tính chất khoa học-công nghệ, học liệu có thể phân thành 2 loại: 9 - Học liệu chế tạo theo công nghệ truyền thống (học liệu in, học liệu nghe nhìn) - Học liệu điện tử b) Học liệu số Học liệu số (hay học liệu điện tử) là tập hợp các phương tiện điện tử phục vụ dạy và học, bao gồm: Giáo trình điện tử, sách giáo khoa điện tử, tài liệu tham khảo điện tử, bài kiểm tra đánh giá điện tử, bản trình chiếu, bảng dữ liệu, các tệp âm thanh, hình ảnh, video, bài giảng điện tử, phần mềm dạy học, thí nghiệm mô phỏng và các học liệu được số hóa khác.
Theo Parrott và Kok, HLĐT (e-courseware) được xem như một tài liệu học tập được cung cấp dưới định dạng điện tử, là sự tích hợp của các dạng thức đa phương tiện được số hóa khác nhau như: Văn bản (text), âm thanh (sounds), hoạt hình (animations) [27, 131-137]. Van Den Akker bổ sung thêm định nghĩa này bằng cách bao gồm trong nó các loại văn bản và tài liệu hỗ trợ khác phù hợp với mục tiêu dạy học cụ thể. Theo Van Den Akker, HLĐT khác với học liệu truyền thống trong cách cung cấp nội dung học tập đến người học cũng như cách tạo ra tương tác giữa người học với các tác nhân khác của QTDH. HLĐT có thể được sử dụng như một phương tiện giảng dạy chính hoặc kết hợp với phương tiện truyền thống trong dạy học [29, 65-76] Như vậy, HLĐT là các tài liệu học tập (dạng tài liệu điện tử dạy học) được số hóa theo một cấu trúc, định dạng và kịch bản nhất định, được lưu trữ trên máy tính nhằm phục vụ việc dạy học.
Dạng thức số hóa có thể là văn bản, 10 bảng dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, video, ứng dụng tương tác,. và hỗn hợp các dạng thức nói trên. HLĐT sử dụng trong dạy học hiện nay rất phong phú và đa dạng. Xem xét dưới góc độ nội dung được chứa đựng, HLĐT bao gồm học liệu tĩnh và học liệu đa phương tiện.
- Học liệu tĩnh là các file text, slide, bảng dữ liệu - Học liệu đa phương tiện có thể gồm những loại sau: Các file âm thanh dùng để minh họa hay diễn giảng kiến thức; Các file mô phỏng kiến thức dưới dạng flash hoặc tương tự; Các file video clip được lưu trữ dưới những định dạng mpg, avi, mov hay các định dạng có hiệu ứng tương tự; Các file trình diễn tổ hợp các thành phần kể trên theo một cấu trúc nhất định. Xem xét dưới góc độ chức năng, HLĐT có thể chia thành 3 nhóm: HLĐT hỗ trợ GV, HLĐT hỗ trợ HS, HLĐT hỗ trợ đồng thời cả GV và HS. - HLĐT hỗ trợ GV gồm các loại: Cung cấp tư liệu tham khảo, hướng dẫn giảng dạy, trợ giúp lao động thể chất, hỗ trợ giao tiếp và tương tác giữa thầy và trò, tạo lập môi trường và điều kiện sư phạm… - HLĐT hỗ trợ HS gồm các loại: Hỗ trợ tìm kiếm và khai thác thông tin - sự kiện - minh họa, công cụ tiến hành hoạt động (nhận thức, giao tiếp), hỗ trợ tương tác giữa HS với GV và giữa HS với HS, trợ giúp lao động thể chất, hướng dẫn học tập, hỗ trợ tự học… - HLĐT hỗ trợ đồng thời cả GV và HS: Là loại HLĐT được thiết kế bao gồm hỗn hợp các dạng thức hỗ trợ GV và HS 1. Khái niệm và lí thuyết về dạy học trải nghiệm “Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích chung, trong một lĩnh vực nhất định” (Theo Từ điển Tiếng Việt trang 699).
Phạm Minh Hạc trong Tuyển tập tâm lý học khẳng định: Cuộc sống cá nhân là một dòng hoạt động, cá nhân là chủ thể của các hoạt động thay thế nhau. Hoạt động là quá trình cá nhân thực hiện các quan hệ giữa họ với thế 11 giới tự nhiên, xã hội, người khác và bản thân. Đó là quá trình chuyển hóa năng lực lao động (cùng với các phẩm chất tâm lý) của bản thân thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngược lại là quá trình tách những thuộc tính sự vật của thực tế quay về với chủ thể, biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể. Trong những năm gần đây, khi tiến hành quá trình dạy học, chúng ta thường xuyên nhắc đến thuật ngữ "trải nghiệm".
Chính vì mức độ phổ biến của thuật ngữ này nên cũng có nhiều cách hiểu, nhiều quan niệm khác nhau về "trải nghiệm". Cuốn Từ điển tiếng Việt Hoàng Phê (chủ biên) - Viện ngôn ngữ học (NXB Đà Nẵng) giải thích: "trải" có nghĩa là "đã từng làm qua, từng biết đến, từng phải chịu đựng" [12, tr.985], còn "nghiệm" có nghĩa là "kinh qua thực tế và nhận thấy điều đó là đúng" [12, tr. Do đó, "trải nghiệm" có thể hiểu là quá trình chủ thể đó được trực tiếp tham gia hoạt động, khám phá giúp cho con người nhận ra được cái đúng cái sai trong cuộc sống và từ đó rút ra những kinh nghiệm quý báu để hoàn thiện bản thân. Tác giả Phạm Minh Hạc trong cuốn Từ điển Bách khoa tâm lý học giáo dục học Việt Nam (NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2013) đã giải thích "chúng ta sống trong thực tại, trao đổi thông tin với thực tại, nhờ đó chúng ta thu được những kiến thức và kinh nghiệm riêng cho bản thân chúng ta.
Như vậy, sống và trải nghiệm là hai khía cạnh luôn song hành với nhau, bổ sung và hoàn thiện cho nhau" [tr.976] Lý thuyết học tập trải nghiệm của David Kolb được công bố đầu tiên năm 1971 với tư cách là lý thuyết tương đối toàn diện về phương thức học tập tích lũy và chuyển hóa kinh nghiệm. Theo David Kolb “học tập là quá trình thông qua hành động, chủ thể tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế”, “học tập là quá trình kiến tạo ra tri thức, nó là kết quả của sự chuyển hóa giữa kiến thức xã hội và kiến thức cá nhân”. Lý thuyết học tập trải nghiệm đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới và đang tiếp tục phát triển trong thời đại hiện nay. 12 Học tập thông qua trải nghiệm là quá trình học tập tích cực, chủ động, sáng tạo và hiệu quả, trong đó học sinh dựa trên sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực giáo dục và nhóm kỹ năng khác nhau để trải nghiệm, tham gia hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục.
Trong quá trình học tập, học sinh có thể tham gia vào tất cả các khâu của quá trình trải nghiệm, có cơ hội được bày tỏ quan điểm, ý tưởng; được thể hiện khả năng sáng tạo của mình, từ đó hình thành và phát triển cho học sinh những giá trị sống, kỹ năng và năng lực cần thiết. Người học còn được tiếp cận thực tế, thâm nhập thực tế để mở rộng sự hiểu biết của bản thân và nâng cao khả năng giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống, thích ứng nhanh chóng với những thay đổi của xã hội. Nội dung hoạt động trải nghiệm mang tính tích hợp, tổng hợp. Ngoài kiến thức về xã hội, hoạt động trải nghiệm còn tổng hợp kiến thức và kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục môi trường, giáo dục giới tính,… Hoạt động trải nghiệm được tổ chức dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú như: hình thức câu lạc bộ, diễn đàn, chiến dịch, dạy học dự án, tham quan điền dã, sân khấu hóa, hội thi,… Mỗi hình thức hoạt động đều có những ưu nhược điểm nhất định đối với quá trình dạy học.
Trên cơ sở phân tích các khái niệm (thuật ngữ) liên quan, có thể định nghĩa về HĐTNST theo nghĩa chung nhất như sau: HĐTNST là hoạt động giáo dục, trong đó nội dung và cách thức tổ chức tạo điều kiện cho từng HS được tham gia trực tiếp và làm chủ thể của hoạt động, tự lên kế hoạch, chủ động xây dựng chiến lược hành động cho bản thân và cho nhóm để hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kĩ năng sống và những năng lực cần có của công dân trong xã hội hiện đại, qua 16 hoạt động HS phát huy khả năng sáng tạo để thích ứng và tạo ra cái mới, giá trị cho cá nhân và cộng đồng. 13 Như vậy, có thể thấy, học tập thông qua trải nghiệm là phương thức hoạt động chỉ sự tương tác, sự tác động của chủ thể với đối tượng xung quanh và ngược lại, hoạt động ở đây là hoạt động của chính bản thân chủ thể. Học tập trải nghiệm nhấn mạnh đến sự trải nghiệm, thúc đẩy năng lực sáng tạo của người học, trong đó “trải nghiệm” là phương thức giáo dục và “sáng tạo” là mục tiêu giáo dục.