Chương I: Cơ sở lý luận về thẻ ngân hàng Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ tại BIDV Chương III: Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại BIDV -4- CHƢƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TH NG N HÀNG 1.1 Giới thiệu v th h 1.1 Khái iệm Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cho chủ thẻ để sử dụng rút tiền mặt và thực hiện các giao dịch khác trong phạm vi số tiền trên tài khoản của chủ thẻ mở tại Ngân hàng hoặc trong hạn mức tín dụng được cấp do ngân hàng quy định từng thời kỳ. Thẻ ngân hàng là thẻ nhựa cho ph p chủ thẻ thông qua các phương tiện thanh toán điện tử để sử dụng tiền trong tài khoản của mình hoặc trong hạn mức được ngân hàng cấp. Thẻ ngân hàng chủ yếu được sử dụng để thanh toán hàng hóa dịch vụ; ứng, rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý; gửi tiền, rút tiền, vấn tin số dư, chuyển khoản…. tại các máy rút tiền tự động (ATM); thực hiện các giao dịch khác: mua hàng qua mạng, thanh toán hóa đơn.
Khi khách hàng sử dụng thẻ để thanh toán hoặc rút tiền, tiền sẽ bị trừ ngay trong tài khoản hoặc hạn mức tín dụng của khách hàng. Vậy có thể nói thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán hiện đại, là hình thức thanh toán không dùng tiền mặt do chủ thẻ sử dụng thẻ để chi tiêu thay vì phải mang theo một lượng tiền mặt nhất định nhưng thẻ ngân hàng không phải là tiền tệ. Nó không mang đặc tính, tính chất và chức năng của tiền tệ.2 Khái iệm phát triể th hàng Phát triển thẻ ngân hàng là sự đo lường bằng các chỉ số thống kê về: số lượng thẻ phát hành (bao gồm thẻ ghi nợ và thẻ quốc tế), số lượng máy ATM, số lượng máy POS, doanh số giao dịch và hoạt động thu phí từ thẻ của một ngân hàng.3 L ch s h h th h v phát triể tha h toá bằ th h Thẻ ngân hàng đã trải qua nhiều giai đoạn thử nghiệm và phát triển. Tuy nhiên, x t về mặt thời gian, thẻ là một ngành kinh doanh tương đối mới mẻ, ra đời và bắt đầu phát triển từ những năm đầu thế kỷ XX.
-5- Từ thói quen cho khách hàng mua chịu của các chủ tiệm bán lẻ trên cơ sở uy tín của khách đối với cửa hàng. Thông thường các chủ tiệm theo dõi khách hàng một cách riêng rẽ, ghi rõ các khoản mà mỗi khách hàng sẽ phải thanh toán và chấp nhận cho khách hàng trả tiền sau vì họ tin tưởng vào khả năng thanh toán của người mua. Tuy nhiên vốn của các cửa hàng thường không đủ lớn, dần dần các chủ tiệm nhận thấy mình không có đủ khả năng cho khách hàng nợ và trả tiền sau liên tục như vậy. Chính yếu tố này đã góp phần giúp các tổ chức tài chính hình thành ý tưởng về sản phẩm thẻ.
Vào những năm 1914, tổ chức chuyển tiền Western Union của Mỹ lần đầu tiên cung cấp cho các khách hàng đặc biệt của mình phương thức thanh toán trả chậm. Công ty này phát hành những tấm kim loại có chứa các thông tin in nổi thực hiện hai chức năng: Nhận diện và phân biệt khách hàng Cung cấp và cập nhật dữ liệu về khách hàng, bao gồm các thông tin về tài khoản và các giao dịch thực hiện. Các tổ chức khác cũng nhận ra giá trị của loại hình thanh toán nói trên và chỉ trong một thời gian ngắn sau đó rất nhiều đơn vị như nhà ga, khách sạn cũng như các cửa hàng trên khắp nước Mỹ đã lựa chọn cung cấp phương thức thanh toán trả chậm cho khách hàng của mình. Trong số đó, tập đoàn xăng dầu của Mỹ cho ra đời tấm thẻ mua xăng đầu tiên vào năm 1924 cho ph p người dân sử dụng thẻ này để mua xăng dầu tại các cửa hàng trên toàn quốc.
Tiếp theo các tổ chức cung cấp hàng hóa dịch vụ, các ngân hàng nhanh chóng bước vào thị trường thẻ với mục tiêu nhân rộng hình thức này trên cơ sở mối quan hệ sẵn có giữa các đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ trên cả nước với hệ thống đại lý rộng khắp của ngân hàng.Với tốc độ phát triển rất nhanh, chỉ vài năm sau đó hơn 100 ngân hàng trên nước Mỹ cùng thực hiện cung cấp phương thức thanh toán trả chậm, tiền thân của thẻ tín dụng sau này. Đến năm 1949, thẻ tín dụng đầu tiên được làm bằng chất liệu Plastic do ông Frank X.Mc Namara, một doanh nhân người Mỹ sáng chế. Có một lần sau khi -6- dùng bữa tối tại một nhà hàng ở New York, ông Mc Namara mới biết mình quên mang tiền mặt. ng phải gọi điện thoại cho vợ nhanh chóng mang tiền đến thanh toán.
Tình trạng khó xử lần đó đã gợi lên ý tưởng thanh toán không dùng tiền mặt đối với Mc Namara. Lần đầu tiên, Mc Namara đã cho ra đời loại thẻ mang tên “Diners Club”- Câu lạc bộ ăn uống. Công ty của Mc Namara phát hành 200 thẻ tín dụng đầu tiên, và những người sử dụng thẻ là những người có tiếng tăm trong xã hội của New York. Tính năng duy nhất của chúng là thanh toán tại 27 nhà hàng sang trọng của New York lúc bấy giờ.000 người đã được cấp thẻ Diners Club.
Tổ chức này bắt đầu phát triển ra nước ngoài năm 1952. Theo chân Diners Club, năm 1955 hàng loạt thẻ mới ra đời như Trip Charge, Golden Key, Gourmet Club, Esquire Club. Đến năm 1958, công ty American Express cho ra đời thẻ American Express Card và thống l nh thị trường. Thẻ American mở rộng thêm tính năng, cho ph p thanh toán các dịch vụ du lịch.
Chỉ trong vòng 5 năm đã đạt được một triệu khách hàng. Tuy nhiên, đối tượng khách hàng chỉ hạn chế ở một nhóm nhỏ người giàu có và chưa phổ biến rộng rãi đến mọi tầng lớp xã hội. Từ từ, sự tiện lợi của thẻ tín dụng khiến các công ty nhảy vào một cuộc đua phát hành chung. Sears có thẻ Sears để mua hàng ở Sears.
Shell có thẻ Shell để đổ xăng ở các cây xăng Shell. Vào năm 1965, Bank of American chính thức trao quyền phát hành thẻ Bank Americard của mình cho các ngân hàng khác thông qua việc ký các hợp đồng đại lý, khởi đầu cho giai đoạn tăng tốc trong phát triển kinh doanh thẻ. Người dân đi du lịch nhiều hơn trên nước Mỹ và cả nước ngoài mà không còn lo lắng tới việc phải có sẵn tiền để thanh toán. Thẻ tín dụng lúc này không chỉ mặc định dành cho những đối tượng giàu có và nổi tiếng mà trở thành một phương tiện thanh toán thông dụng.
Thương hiệu Bank Americard với một loạt sản phẩm có ba màu xanh, trắng, vàng đặc trưng ngày càng trở nên quen thuộc với người tiêu dùng. Bằng việc ký hợp đồng đại lý và cho các ngân hàng khác hưởng phí thanh toán chuyển đổi, Bank of American đã nhanh chóng tăng được lượng thẻ phát -7- hành cũng như ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ với các ĐVCNT trên khắp nước Mỹ và mở rộng ra thế giới. Tới năm 1977, thẻ của ngân hàng Bank of American thực sự được chấp nhận trên toàn cầu và thay vì tên Bank Americard, tên thẻ Visa ra đời với màu sắc đặc trưng vẫn là xanh lam, trắng và vàng. Cũng vào năm 1966, để cạnh tranh với sự thành công của ngân hàng Bank of American, 14 ngân hàng lớn của Mỹ quyết định hợp tác thành lập Hiệp hội thẻ liên ngân hàng quốc tế (Interbank Card Association - ICA).
Sau này ICA được đổi thành MasterCard. ICA ban hành các quy định về cấp ph p giao dịch, thanh toán bù trừ, các biện pháp Marketing, bảo mật và các vấn đề liên quan tới luật pháp nhằm vận hành công việc một cách có hiệu quả. Năm 1968, ICA bắt đầu chiến lược mở rộng kinh doanh trên phạm vi toàn cầu thông qua việc liên kết với ngân hàng Banco National của Mexico. Sau đó ICA tiếp tục tìm kiếm các đối tác tại thị trường châu Âu và cho ra đời thẻ Eurocard.
Cũng vào năm 1968, ICA kết nạp thêm thành viên là một số ngân hàng tại Nhật nhằm từng bước thâm nhập và nắm bắt thị trường Đông Á này. Như vậy, thẻ ngân hàng ra đời từ nhu cầu thanh toán và phát triển dựa trên nền tảng công nghệ cũng như chiến lược thay thế tiền mặt trong lưu thông. Thực tế cho thấy, thẻ ngân hàng là sự phát triển tất yếu trong l nh vực tài chính ngân hàng, đồng thời đã và đang phản ánh sự phát triển của khoa học công nghệ và văn minh xã hội. Tiếp thu và ứng dụng những thành tựu của thế giới về khoa học kỹ thuật, nhất là về công nghệ thông tin, hệ thống thẻ ngày càng hoàn thiện và phát triển.
Cùng với mạng lưới thành viên và khách hàng phát triển hàng ngày, các TCTQT đã xây dựng hệ thống xử lý giao dịch và trao đổi thông tin toàn cầu về phát hành, thanh toán, cấp ph p, tra soát, khiếu kiện và quản lý rủi ro. Với doanh số giao dịch hàng trăm tỷ USD mỗi năm, thẻ ngân hàng đang cạnh tranh quyết liệt cùng tiền mặt và s c trong hệ thống thanh toán toàn cầu. Đây là thành công đáng kể đối với một ngành kinh doanh mới chỉ có vài thập kỷ hình thành và phát triển. Các o i th đƣợc s dụ tha h toá thô dụ tr th iới: -8- Có nhiều loại thẻ đã và đang được sử dụng trên thế giới, song có 5 loại thẻ sau được xem là tiêu biểu nhất đó là: Diners Club, American Express, VISA, JCB, Master card.
Các loại thẻ này được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và thay nhau phân chia những thị trường rộng lớn. Diners Club Card ra đời năm 1949, là thẻ tín dụng ra đời sớm nhất. Nay thuộc sở hữu của Khám phá tài chính (NYSE: DFS)- chỉ đạo, ngân hàng và công ty dịch vụ thanh toán với một trong những thương hiệu được công nhận nhiều nhất trong dịch vụ tài chính Mỹ. Với sự chấp nhận tại hơn 185 quốc gia và vùng lãnh thổ, hàng triệu địa điểm thương gia và truy cập vào hơn 800.000 địa điểm truy cập bằng tiền mặt và máy rút tiền ATM.
Hiện số người sử dụng thẻ Diners Club đang giảm dần. American Express Card (Amex) ra đời năm 1958, có trụ sở chính tại San New York, United States. Hiện nay thẻ American Express được chấp nhận trên 200 quốc gia với 54 loại tiền tệ. Mạng lưới ĐVCNT đang phục vụ cho 50 triệu chủ thẻ trên khắp thế giới với các chỉ tiêu bằng thẻ thuộc loại hàng đầu.