phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng về phát triển hoạt động huy động vốn tại Vietinbank Chi nhánh Sa Đéc. Chƣơng 3: Giải pháp nhằm phát triển hoạt động huy động vốn tại Vietinbank Chi nhánh Sa Đéc. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Với những mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn kỳ vọng sẽ mang lại một số đóng góp về mặt học thuật giúp làm giàu tri thức trong lĩnh vực nghiên cứu cũng nhƣ góp phần giải quyết các vấn đề thực tiễn: 7.1 Về mặt lý luận Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động của NHTM, nguồn vốn của NHTM, hoạt động huy động vốn của NHTM, vai trò của hoạt động huy động vốn, phát triển hoạt động huy động vốn của NHTM, các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan ảnh hƣởng đến hoạt động huy động vốn của NHTM.
Vì thế, luận văn cung cấp những cơ sở lý luận và làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu sau này về hoạt động huy động vốn của các NHTM.2 Về mặt thực tiễn Thông qua việc phân tích và đánh giá về hoạt động huy động vốn, quy mô vốn huy động (VHĐ), cơ cấu vốn huy động, cơ cấu khách hàng của Vietinbank chi nhánh Sa Đéc, luận văn giúp Ban lãnh đạo của Ngân hàng hiểu rõ hơn về thực trạng hoạt động huy động vốn. Luận văn sẽ đƣa ra năm giải pháp cơ bản để phát triển hoạt động huy động vốn của Vietinbank Chi nhánh Sa Đéc. Qua đó, giúp Vietinbank Chi nhánh Sa Đéc có thể phát triển hoạt động huy động vốn. Mặc dù mục tiêu của đề tài là đƣa ra các giải pháp để phát triển hoạt động huy động vốn tại Vietinbank Chi nhánh Sa Đéc, một số giải pháp đƣa ra ở đây có thể đƣợc áp dụng cho các NHTM khác, những ngân hàng có nhiều điểm tƣơng đồng với Vietinbank Chi nhánh Sa Đéc về lịch sử hình thành và phát triển, về cơ cấu tổ chức, về quy mô vốn, quy mô hoạt động… để tăng cƣờng nguồn vốn huy động cho ngân hàng.
TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Hiện nay có một số đề tài nghiên cứu có liên quan nhƣ sau: - Tại bài viết “Huy động vốn “nóng” ngay sau Tết” của Thùy Vinh, bài viết đã nói lên việc để huy động vốn các nhà băng không chỉ tung ra hàng loạt chƣơng trình khuyến mãi, mà còn chạy đua nâng lãi suất huy động tiền nhãn rỗi đầu năm mới, với kỳ vọng đáp ứng tốt cầu vốn tăng trong những tháng tới đây. - Tại bài viết “Huy động vốn cho đầu tƣ phát triển kinh tế - xã hội” của Nguyễn Đắc Hƣng, bài báo đã đề cập khá toàn diện các kênh huy động vốn thực tế và tiềm tàng, đồng thời cũng chỉ ra các vấn đề tồn tại trong huy động vốn để có giải pháp kịp thời, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trƣởng kinh tế. - Tại bài viết “Nâng cao hiệu quả huy động vốn” của ThS. Đƣờng Thị Thanh Hải, tác giả đã đƣa ra các nhân tố ảnh hƣởng đến huy động vốn từ đó đƣa ra các giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn của ngân hàng từ những nhân tố bên ngoài cũng nhƣ những nhân tố bên trong ngân hàng.
- Tại bài nghiên cứu “Giải pháp nâng cao hoạt động huy động vốn của Agribank” của TH.S Trịnh Thế Cƣờng, tác giả đã đƣa ra những con số thuyết phục về thực trạng huy động vốn ở các ngân hàng từ đó phân tích và đƣa ra giải pháp nâng cao hoạt động huy động vốn. Đặc biệt, tác giả đã cho số liệu khá cụ thể về hoạt động huy động vốn. Chính việc phân tích ở nhiều góc độ khác nhau nên hƣớng giải pháp do tác giả đƣa ra rất thuyết phục. Tuy nhiên, bài nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc nêu nguyên nhân và giải pháp nâng cao hoạt động huy động vốn, chƣa cho ngƣời đọc hiểu đƣợc một cách cụ thể về vấn đề này (tổng quan về hoạt động huy động vốn).
Vì vậy, nghiên cứu trên chỉ có giá trị về mặt chuyên ngành. Hơn nữa, nhiều bài nghiên cứu của tác giả có uy tín trong ngành ngân hàng đều theo hƣớng chung là bao quát tình trạng trong phạm vi cả nƣớc, chƣa nắm bắt đƣợc tình trạng, đặc trƣng riêng của hoạt động ngân hàng ở nhiều vùng, miền (các yếu tố khách quan chi phối đến hoạt động ngân hàng) nên việc áp dụng các giải pháp đƣợc nêu có thể chỉ dừng lại ở mức độ nhất định. 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm ngân hàng thƣơng mại NHTM là một định chế tài chính trung gian có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trƣờng nói chung và trong hệ thống ngân hàng trung gian nói riêng. Cùng với sự phát triển và biến đổi của hệ thống ngân hàng, sự pha trộn các hoạt động truyền thống của ngân hàng với các loại hình trung gian tài chính, khái niệm về NHTM cũng thay đổi.
Một trong những lý do tách NHTM thành một nhóm riêng, mặc dù biên giới đó rất mỏng manh, đó là tổng tài sản có của NHTM luôn chiếm một khối lƣợng lớn nhất trong toàn hệ thống ngân hàng. NHTM là ngân hàng trung gian duy nhất đƣợc phép mở tài khoản và nhận tiền gửi thanh toán cho công chúng. Khối lƣợng tiền gửi mà NHTM tạo ra là bộ phận quan trọng trong tổng cung tiền M1 và M2 của nền kinh tế. Từ những năm 1980, sau khi tiền gửi thanh toán đƣợc trả lãi, các ngân hàng tiết kiệm và một số ngân hàng trung gian khác cũng bắt đầu mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn và cho phép khách hàng sử dụng séc dƣới nhiều hình thức đa dạng.
Ranh giới phân biệt NHTM với các ngân hàng trung gian khác cũng bị lu mờ dần. Một NHTM là một ngân hàng trung gian, hoạt động chủ yếu vì mục tiên lợi nhuận, với tỷ lệ vốn cho vay vào mục đích thƣơng mại, công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản có của nó. Ở Việt Nam: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán. Theo luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 của Quốc hội “ NHTM là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Nhƣ vậy có thể hiểu NHTM là một tổ chức tín dụng chuyên kinh doanh tiền tệ và các hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận.
NHTM luôn đƣợc xem là loại hình ngân hàng quan trọng nhất trong các ngân hàng trung gian.2 Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thƣơng mại Có nhiều cách để phân chia hoạt động của các NHTM, tuy nhiên theo Điều 4.12, Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản ”. Vì NHTM là tổ chức đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động này và các hoạt động kinh doanh khác nên ta sẽ lần lƣợt xem xét các nghiệp vụ cơ bản này. Nhận tiền gửi là nghiệp vụ đầu tiên của NHTM, nghiệp vụ này ra đời gắn liền với sự phát triển của các NHTM. Tiền gửi là bộ phận quan trọng nhất và thƣờng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn của một NHTM.
NHTM mở tài khoản và giữ tiền cho các tổ chức và các cá nhân. Qua đó, NHTM có đƣợc nguồn vốn dồi dào để phục vụ cho các hoạt động cho vay và đầu tƣ. Về mặt pháp lý, nhận tiền gửi là thỏa thuận giữa ngân hàng -tổ chức nhận tiền và khách hàng - ngƣời gửi tiền thông qua hợp đồng tiền gửi về việc ngƣời gửi tiền sẽ đƣa tiền cho ngân hàng vay trong một thời gian nhất định, ngân hàng sẽ phải trả lãi tiền gửi và gốc cho ngƣời gửi tiền theo lãi suất đã thỏa thuận.13, Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010: “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho ngƣời gửi tiền theo thỏa thuận”. Sau khi nhận tiền gửi từ khách hàng, NHTM sẽ làm gì với số vốn huy động đƣợc, NHTM lấy đâu ra tiền để trả lại cho khách hàng cả vốn và lãi tiền gửi? Câu trả lời chính là hoạt động “cấp tín dụng”- một nghiệp vụ quan trọng của các NHTM.14, Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” Trong các hình thức cấp tín dụng này, cho vay là hình thức cấp tín dụng phổ biến nhất và luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong dƣ nợ (DN) tín dụng của một NHTM.
Thực hiện nghiệp vụ cho vay nghĩa là NHTM sử dụng số vốn đã huy động 3 đƣợc cho các tổ chức và cá nhân cần vốn vay để mở rộng sản xuất, kinh doanh, đầu tƣ hay đáp ứng nhu cầu mua sắm, tiêu dùng cá nhân. Có thể phân ra thành nhiều loại hình cho vay tùy theo tiêu chí phân loại nhƣ cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; cho vay vốn lƣu động, cho vay đầu tƣ dự án; cho vay mua nhà, cho vay mua ô tô, cho vay tiêu dùng…Ngoài các sản phẩm cho vay truyền thống trong ngắn hạn, các NHTM ngày càng tài trợ nhiều cho các dự án đầu tƣ, xây dựng, mua sắm tài sản cố định với thời hạn vay khá dài. Vì các khoản cho vay dài hạn có mức độ rủi ro cao hơn các khoản cho vay ngắn hạn nên lợi nhuận mà các NHTM thu đƣợc cũng lớn hơn.