CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về cho vay khách hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm cho vay khách hàng bán lẻ Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận. Doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp các chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư. Khách hàng vay vốn của ngân hàng thương mại bao gồm các doanh nghiệp, cá nhân, định chế tài chính, tổ chức tín dụng (TCTD) khác.
Trong đó khách hàng cá nhân và doanh nghiệp siêu nhỏ ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp siêu nhỏ vay vốn từ NHTM để phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác ở trong nước và phục vụ hoạt động tiêu dùng đời sống ở trong và ngoài nước. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng (Nghị định 80/2021) Theo Luật tổ chức tín dụng nêu rõ "Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi" (Quốc hội, 2010) Theo Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đức Duy (1999) cho rằng “Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là các dịch vụ ngân hàng được thực hiện với khách hàng là công chúng, thường có quy mô nhỏ và thông qua các chi nhánh nhằm đối lập với dịch vụ ngân hàng bán buôn là dịch vụ ngân hàng dành cho các định chế tài chính và những dịch vụ ngân hàng được cung cấp với số lượng lớn". Cho vay khách hàng bán lẻ là hoạt động cung ứng các sản phẩm dịch vụ phục vụ đối tượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình thông qua các kênh phân phối 6 khác nhau nhằm thỏa mãn các nhu cầu liên quan đến quá trình sử dụng nguồn tài chính của cá nhân và hộ gia đình trong xã hội (Tô Khánh Toàn, 2014).
Cho vay khách hàng bán lẻ là quan hệ cho vay mà Ngân hàng chuyển giao về vốn trong một thời gian nhất định từ ngân hàng tới các khách hàng bán lẻ nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tư hay sản xuất kinh doanh. Như vậy, cho vay đối với khách hàng bán lẻ là hình thức cấp tín dụng của NHTM trong đó ngân hàng thỏa thuận để khách hàng là cá nhân, hộ gia đình hoặc doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng một khoản tiền với mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.2 Phân loại hoạt động cho vay khách hàng bán lẻ Theo Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2016) thì có thể phân loại hoạt động cho vay khách hàng bán lẻ theo một số tiêu chí sau: a. Căn cứ vào thời hạn cho vay chia làm ba loại: - Cho vay ngắn hạn: Là loại vay có thời hạn cho vay từ 1 tháng đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt trong nhu cầu chi tiêu và sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn của các cá nhân. - Cho vay trung hạn: Theo quy định của NHNNVN là khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm.
- Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Cho vay dài hạn được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, mua sắm các tài sản sử dụng lâu bền, đầu tư tài sản cố định. Căn cứ theo mục đích vay - Cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng đời sống. Là việc Ngân hàng cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm các cá nhân, hộ gia đình.
Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp họ trang trải nhu cầu về nhà ở, đồ dùng gia đình, xe ô tô, nhu cầu về y tế, giáo dục, du lịch…. - Cho vay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh: Là việc Ngân hàng cho vay đối với khách hàng cá nhân, nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Như cho vay sản xuất kinh doanh đối với cá nhân, hộ gia đình; doanh nghiệp siêu nhỏ; cho vay du học; cho vay người lao động đi làm việc tại nước ngoài… 7 Thời gian cho vay bao gồm cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Cho vay sản xuất kinh doanh cũng bao gồm hai hình thức là tín chấp và thế chấp.
Đối với hoạt động cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh thường áp dụng hình thức thế chấp c. Căn cứ theo hình thức cho vay Được chia thành 2 loại: cho vay tín chấp và cho vay thế chấp. + Cho vay tín chấp: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba. Mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.
Đối với những khách hàng tốt, trung thực, có khả năng tài chính mạnh thì ngân hàng có thể cấp TDBL dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung. + Cho vay thế chấp: Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có tài sản đảm bảo. Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. Loại cho vay này yêu cầu phải có tài sản thế chấp/cầm cố hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba.
Người vay chuyển toàn bộ quyền sở hữu, quyền kiểm soát, quyền sử dụng lâu dài hoặc toàn bộ các giấy tờ chứng nhận, sở hữu tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng. Trong trường hợp khách hàng có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đó không đáp ứng được các điều kiện của ngân hàng thì ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng sử dụng chính tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của ngân hàng làm vật đảm bảo d. Căn cứ theo phương thức vay Dựa theo tiêu thức này có thể chia thành cho vay trực tiếp và cho vay gián tiếp. + Cho vay gián tiếp: NHTM không chỉ gặp khách hàng trực tiếp để cho vay mà ngân hàng có thể thông qua một trung gian để thực hiện cấp tín dụng, miễn là khoản vay an toàn.
Cho vay gián tiếp được hiểu là hình thức cấp tín dụng mà ngân hàng không trực tiếp tiếp xúc, cấp vốn cho khách hàng và khách hàng cũng không trực tiếp trả nợ cho ngân hàng. Ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh từ những công ty chuyên cung cấp những sản phẩm dịch vụ để cho vay với người tiêu dùng. Hình thức này phát triển cùng với sự ra đời của phương thức tiếp thị mới và cách thức mà người 8 tiêu dùng mua sắm hàng hóa lâu bền. Người tiêu dùng có xu hướng mua sắm hàng hóa trước khi dàn xếp nguồn tài trợ.
Nhiều công ty bán lẻ và các đại lý đã chấp nhận bán chịu hàng hóa cho khách hàng với điều kiện khách hàng phải hoàn trả lại số tiền sau một thời gian nhất định. Tuy nhiên do năng lực tài chính, họ cần số vốn để duy trì hoạt động và họ buộc phải tìm đến ngân hàng. Ưu điểm của hình thức này là NH có cơ hội tăng doanh số cho vay mà mất ít chi phí nghiệp vụ. Trong cho vay tiêu dùng gián tiếp, các công ty bán lẻ cũng phải chịu trách nhiệm giám sát các khoản vay trong một thời gian nhất định, theo dõi các TK không trả đúng hạn.
Nhờ đó ngân hàng tiết kiệm được thời gian và chi phí đáng kể. Tuy nhiên, sự tài trợ này có những hạn chế nhất định. Ngân hàng không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, toàn bộ thông tin về khách hàng đều do các công ty bán lẻ thu thập, do đó ngân hàng không có cơ sở để đánh giá khách hàng một cách chính xác. Các khoản nợ của khách hàng thiếu sự kiểm soát của ngân hàng trước và trong và sau khi cho vay.
Vì vậy, ngân hàng đứng trước nguy cơ rủi ro tín dụng rất cao. Mặt khác, do tâm lý của khách hàng mua trả góp, họ thường có cảm giác món nợ có thể xóa bằng việc trả lại hàng nếu hàng hóa không thỏa mãn hoặc họ không có đủ khả năng tài chính mua nó; vì vậy khi biết mình chịu một khoản vay của ngân hàng họ thường có tâm lý bất hợp tác với ngân hàng. Do hạn chế như trên mà nhiều ngân hàng không hoặc hạn chế tham gia vào hình thức tài trợ này. Và luôn kiểm tra giám sát chặt chẽ các khoản vay.
+ Cho vay trực tiếp: Là hình thức khách hàng và ngân hàng trực tiếp gặp nhau để tiến hành cho vay và thu nợ. So với cho vay gián tiếp, chất lượng các khoản vay được nâng cao hơn. Ngân hàng tiến hành thẩm định đánh giá trước khi đưa ra quyết định cho vay. Mặt khác ngân hàng còn có sự giám sát chặt chẽ khách hàng sau cho vay, nhờ đó hạn chế thấp nhất rủi ro tín dụng có thể xảy ra.
Hơn nữa, cán bộ tín dụng của ngân hàng là những người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng, các quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thường có cơ sở và chất lượng cao hơn so với công ty bán lẻ. Mặt khác, khi tiếp xúc với khách hàng, cán bộ 9 tín dụng quan tâm đến chất lượng tín dụng, trong khi các công ty bán lẻ thường coi trọng doanh số bán hàng và từ đó đưa ra các quyết định “tín dụng” nhanh chóng. Hình thức cho vay tiêu dùng trực tiếp linh hoạt hơn so với cho vay gián tiếp do quan hệ trực tiếp dễ xử lý những phát sinh hơn, làm thỏa mãn quyền lợi của cả hai bên. Nhờ mối quan hệ tốt với khách hàng trong quá trình cho vay, ngân hàng sẽ giữ chân được khách hàng và có cơ hội gia tăng khách hàng tiềm năng.