mở đầu hoặc tiếp tục thực hiện quá trình thanh toán đã đƣợc bên nhận tiền khởi xƣớng trƣớc. Họ có thể là ngƣời mua hàng hóa, dịch vụ, nộp thuế, trả nợ hay là ngƣời chuyển nhƣợng một khoản tiền nào đó cho ngƣời khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định. Ngƣời trả tiền có nghĩa vụ phải trả tiền đúng thời hạn và tuân thủ những yêu cầu về chứng từ theo quy định đã thỏa thuận trƣớc. Đồng thời, họ cũng có quyền từ chối thanh toán nếu các chủ thể khác nếu vi phạm cam kết giữa hai bên.
Người thụ hưởng là bên cung cấp hàng hóa hay dịch vụ và họ sẽ đƣợc hƣởng một khoản tiền nào đó theo thỏa thuận. Họ cũng có thể là ngƣời khởi xƣớng tiến trình thanh toán qua Ngân hàng. Cơ sở để họ nhận tiền có thể là chứng từ, hóa đơn giao hàng nếu là ngƣời cung cấp hàng hóa, dịch vụ; có thể là hợp đồng nhận nợ nếu là ngƣời cho vay. Đồng thời họ cũng phải có nghĩa vụ bồi thƣờng bên mua nếu nhƣ không cung ứng hàng hóa hay dịch vụ theo hợp đồng đã ký kết.
Các tổ chức cung ứng dịch vụ TTKDTM gồm Kho bạc Nhà nƣớc (KBNN), Ngân hàng nhà nƣớc (NHNN), Ngân hàng thƣơng mại (NHTM), chi nhánh Ngân hàng nƣớc ngoài, Quỹ Tín dụng nhân dân, Công ty Tài chính. Tuy nhiên, trong 7 luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về hoạt động TTKDTM tại các NHTM. Ngân hàng thƣơng mại cung cấp các dịch vụ thanh toán cho ngƣời trả tiền, ngƣời nhận tiền và đƣợc thu phí từ các dịch vụ thanh toán phù hợp với quy định của NHNN. Các Ngân hàng có trách nhiệm hƣớng dẫn khách hàng làm các thủ tục thanh toán, giám sát khả năng thanh toán của khách hàng, cung cấp các loại giấy tờ thanh toán cần thiết theo quy định.
Ngân hàng phải thực hiện thanh toán kịp thời, chính xác và đảm bảo an toàn tài sản cho khách hàng. Nền kinh tế ngày càng phát triển, số lƣợng thanh toán ngày càng nhiều và phạm vi càng mở rộng hơn không chỉ ở trong nƣớc. Trong điều kiện các doanh nghiệp không thể trực tiếp thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ với nhau bằng tiền mặt mà cần có sự tham gia của Ngân hàng, vì vậy mà Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán trong nền kinh tế.1: Mô hình hệ thống TTKDTM qua hệ thống NHTM Chi nhánh Hệ thống thanh Chi nhánh NHTM A toán nội bộ NH A NHTM A NGƢỜI NGƢỜI TRẢ Hệ thống thanh THỤ TIỀN HƢỞNG toán liên NH NHTM B NHTM A Các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán Thứ ba, trong TTKDTM luôn đòi hỏi phải có các chứng từ thanh toán Chứng từ thanh toán là căn cứ để ngân hàng thực hiện việc thanh toán, chứng từ phải đƣợc lập theo mẫu do Ngân hàng quy định tùy theo các giao dịch cụ thể. Tùy theo từng giao dịch cụ thể mà chứng từ thanh toán có những hình 8 thức và nội dung khác nhau.
Chứng từ có thể lập dƣới hai hình thức đó là chứng từ giấy hoặc chứng từ điện tử. Chứng từ giấy là các chứng từ thanh toán của chủ thể thanh toán lập trên mẫu in sẵn do Ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán cung cấp. Các chứng từ phải đƣợc lập đủ liên, viết rõ ràng, không đƣợc tẩy xóa. Trên chứng từ bản chính phải có đầy đủ chữ ký của chủ tài khoản, kế toán trƣởng, đƣợc đóng dấu, mẫu chữ ký và mẫu dấu của khách hàng phải đƣợc đăng ký trƣớc tại Ngân hàng nơi khách hàng giao dịch.
Chứng từ điện tử có giá trị pháp lý ngang chứng từ giấy, riêng dấu và chữ ký đƣợc mã hóa bằng ký hiệu mật và phải có yếu tố bảo mật đảm bảo an toàn trong quá trình xử lý, nó đƣợc thể hiện ở dạng dữ liệu điện tử và đƣợc mã hóa mà không bị thay đổi trong quá trình thanh toán. Các chứng từ điện tử đã sử dụng để hạch toán kế toán và thanh toán phải đƣợc in ra giấy dƣới dạng bảng kê chứng từ để bảo quản, lƣu trữ. Các hình thức TTKDTM tại NHTM Theo nghị định số 101/2012/NĐ – CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về Thanh toán không dùng tiền mặt; Nghị định 80/2016/NĐ – CP ngày 01/07/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều chỉnh của nghị định 101/2012/NĐ – CP về thanh toán không dùng tiền mặt và thông tƣ số 46/2014/TT – NHNN hƣớng dẫn về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt thì các dịch vụ TTKDTM tại NHTM gồm có: Dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán của khách hàng gồm: thanh toán séc, lệnh chi/ủy nhiệm chi, nhờ thu/ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thƣ tín dụng và các phƣơng tiện thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc. Dịch vụ ví điện tử thông qua Tài khoản điện tử định danh.Thanh toán bằng Séc Theo Luật Các công cụ chuyển nhƣợng số 49/2005/QH11 ngày 9 29/11/2005, “Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là Ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người thụ hưởng” [khoản 4, điều 4; phụ lục 14].
Séc đƣợc sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, trả nợ hoặc rút tiền tại các chi nhánh Ngân hàng. Trong hình thức thanh toán bằng Séc, việc trả tiền do ngƣời trả tiền thực hiện và kết thúc giao dịch bằng việc ghi số tiền trên tờ Séc vào tài khoản của ngƣời đƣợc trả tiền. Ƣu điểm khi thanh toán bằng Séc đó là có quyền phản kháng với yêu cầu thực hiện nhƣ Séc bị mất hoặc ngƣời ký phát séc bị tòa tuyên bố phá sản và Ngân hàng có thể từ chối thanh toán với một số lý do đặc biệt. Séc giúp giảm lƣu thông tiền mặt trong thị trƣờng nhƣng vẫn đảm bảo khả năng thanh toán đồng thời ngăn chặn một số phát sinh nếu ngƣời ký phát mất sổ Séc.
Các bên tham gia vào thanh toán bằng séc: Người ký phát: là tổ chức, cá nhân có tài khoản tại Ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đƣợc phép của Ngân hàng Nhà nƣớc; là ngƣời lập và ký phát séc trả cho ngƣời thụ hƣởng. Người bị ký phát: là ngân hàng mở tài khoản thanh toán cho ngƣời ký phát có trách nhiệm thanh toán một số tiền nhất định ghi trên séc theo lệnh của ngƣời ký phát séc. Người được trả tiền: là ngƣời mà ngƣời ký phát chỉ định có quyền hƣởng hay chuyển nhƣợng lại quyền hƣởng đối với số tiền ghi trên séc Người thụ hưởng: là ngƣời cầm tờ séc đó mà tên ngƣời đƣợc hƣởng là chính mình hoặc có cụm từ “Trả cho ngƣời cầm séc”, hoặc đã đƣợc chuyển nhƣợng bằng ký hậu cho mình thông qua dãy chữ ký chuyển nhƣợng liên tục. Phân loại séc: Séc chuyển khoản: là loại séc mà ngƣời ký phát ra lệnh cho ngân hàng trích tiền từ tài khoản của mình thanh toán cho ngƣời thụ hƣởng, séc chuyển khoản không thể chuyển nhƣợng đƣợc và không đƣợc lĩnh tiền mặt.
Điều này sẽ 10 hạn chế rủi ro trong thanh toán. Séc chuyển khoản áp dụng trong trƣờng hợp mà hai bên chi trả và thụ hƣởng có tài khoản tại cùng một Ngân hàng hoặc tại hai Ngân hàng khác nhau có tham gia thanh toán bù trừ trên cùng địa bàn. Séc lĩnh tiền mặt: là loại séc mà ngân hàng sẽ thanh toán bằng tiền mặt cho bên thụ hƣởng, ngƣời ký phát sẽ gánh chịu rủi ro nếu séc bị mất, ngƣời cầm tờ séc không cần sự ủy quyền cũng lĩnh đƣợc tiền mặt. Séc bảo chi: là loại séc đƣợc Ngân hàng bảo đảm chi trả bằng cách trích trƣớc số tiền trên séc từ tài khoản tiền gửi của ngƣời trả tiền sang tài khoản đảm bảo khả năng thanh toán séc.
Phạm vi áp dụng của séc bảo chi rộng hơn so với séc chuyển khoản, dùng để thanh toán giữa những khách hàng có tài khoản tại các Ngân hàng khác nhau có tham gia thanh toán bù trừ trên cùng địa bàn và cả các khách hàng có tài khoản tại các chi nhánh Ngân hàng cùng hệ thống trên phạm vi cả nƣớc. Thời hạn xuất trình séc Thời hạn xuất trình yêu cầu thanh toán séc là ba mƣơi ngày, kể từ ngày ký phát (không tính thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan). Trƣờng hợp séc đƣợc xuất trình để thanh toán trƣớc ngày ghi là ngày ký phát trên séc thì việc thanh toán chỉ đƣợc thực hiện kể từ ngày ký phát ghi trên séc. Séc đƣợc xuất trình sau thời hạn xuất trình để thanh toán nhƣng chƣa quá sáu tháng kể từ ngày ký phát thì ngƣời bị ký phát vẫn có thể thanh toán nếu ngƣời bị ký phát không nhận đƣợc thông báo đình chỉ thanh toán đối với séc đó và ngƣời ký phát có đủ tiền trên tài khoản để thanh toán.
Ngƣời thụ hƣởng có thể xuất trình séc để thanh toán theo hình thức thƣ bảo đảm qua mạng bƣu chính công cộng. Việc xác định thời điểm xuất trình séc để thanh toán đƣợc tính theo ngày trên dấu bƣu điện nơi gửi. Điều kiện thanh toán séc: Số dƣ trên tài khoản thanh toán và hạn mức thấu chi (nếu có) đủ thanh toán cho toàn bộ số tiền ghi trên tờ séc. Nếu số tiền không đủ cho thanh toán 11 toàn bộ số tiền ghi trên séc thì ngƣời thụ hƣởng có thể yêu cầu Ngân hàng thanh toán một phần số tiền ghi trên séc.
Khi phát hiện bảng kê nộp séc có sai sót hoặc các tờ séc không có đầy đủ các điều kiện thì ngƣời thu hộ phải trả lại séc cho ngƣời nộp séc và yêu cầu lập lại bảng kê nộp séc khác thay thế phù hợp với các tờ séc đủ điều kiện thanh toán. Thủ tục thanh toán séc: Một tờ séc đƣợc chấp nhận thanh toán khi nó đƣợc xuất trình hợp lệ, đúng thời hạn và đảm bảo khả năng thanh toán. Trong trƣờng hợp hai bên giao dịch có tài khoản tại cùng một chi nhánh Ngân hàng thì quá trình thanh toán chỉ đơn giản là trích số tiền ghi trên séc từ tài khoản của ngƣời trả tiền sang tài khoản của ngƣời thụ hƣởng. Trong trƣờng hợp các khách hàng mở tài khoản tại các chi nhánh Ngân hàng khác nhau thì khi tờ Séc đƣợc xuất trình hợp lệ, ngân hàng không thanh toán ngay, mà việc chi trả cho ngƣời thụ hƣởng chỉ đƣợc tiến hành sau khi đã nhận đƣợc báo có từ phía ngân hàng phục vụ ngƣời trả tiền.