CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán trong các mối quan hệ kinh tế được hiểu một cách khái quát nhất là việc thực hiện chi trả bằng tiền giữa các bên trong những quan hệ kinh tế nhất định. Tiền ở đây được hiểu là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá hoặc dịch vụ hoặc trong trả nợ.
Thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán trong đó không có sự xuất hiện của tiền mặt mà việc thanh toán được thực hiện bằng cách trích chuyển trên các tài khoản của các chủ thể liên quan đến số tiền phải thanh toán [2]. Thanh toán không dùng tiền mặt còn được định nghĩa là phương thức thanh toán không trực tiếp dùng tiền mặt mà dựa vào các giấy tờ hợp pháp như uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, séc… để trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản của đơn vị này sang tài khoản của đơn vị khác ở ngân hàng. Thanh toán không dùng tiền mặt gắn với sự ra đời của đồng tiền ghi sổ [17]. Đặc điểm của thanh toán không dùng tiền mặt Sự ra đời của hình thức thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) gắn liền với sự ra đời của đồng tiền ghi sổ, sự phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của hệ thống Ngân hàng.
Sự tồn tại và lớn mạnh của hệ thống tạo điều kiện cho cá nhân và các tổ chức kinh tế mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng và thực hiện việc thanh toán thông qua việc chuyển khoản trong hệ thống ngân hàng. TTKDTM là một hình thức vận động tiền tệ mà ở đây tiền vừa là công cụ để kế toán, vừa là công cụ để chuyển hóa hình thức giá trị của hàng hóa và dịch vụ. Nó có một số đặc điểm sau: Một là, sự vận động của tiền tệ có thể tách rời hoặc độc lập tương đối với sự vận động của hàng hóa cả về không gian và thời gian. Cụ thể hơn, việc giao nhận hàng hóa có thể được tiến hành tại một thời điểm của một nơi nào đó nhưng việc thanh toán có thể được thực hiện tại một địa điểm của một nơi khác [8].
6 --- Hai là, trong thanh toán không dùng tiền mặt, tiền tệ xuất hiện không dưới vai trò là trung gian trao đổi, mà xuất hiện dưới vai trò là tiền ghi sổ (tiền ngân hàng) và được ghi chép trên các chứng từ sổ sách. Do đó thanh toán không dùng tiền mặt yêu cầu mỗi bên tham gia phải có tài khoản tại các ngân hàng. Ba là, trong thanh toán không dùng tiền mặt, vai trò của ngân hàng là đặc biệt quan trọng và không thể thiếu trong phương thức thanh toán này. Nếu như thanh toán bằng tiền mặt được thực hiện bằng mối quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán thì thanh toán không dùng tiền mặt được thực hiện thông qua sự tham gia của ít nhất một ngân hàng.
Do đó, ngân hàng đóng vai trò không thể thiếu trong thanh toán chuyển khoản, và trở thành trung tâm thanh toán cho toàn xã hội. Nguyên tắc thanh toán không dùng tiền mặt Muốn thanh toán qua Ngân hàng, khách hàng phải chấp hành đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước về thanh toán qua Ngân hàng cũng như những hướng dẫn cụ thể của từng Ngân hàng. Dù là khách hàng của Ngân hàng nào khi muốn thanh toán qua Ngân hàng cũng phải tuân theo những nguyên tắc sau: Phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng và trên tài khoản phải đảm bảo có số dư để đáp ứng nhu cầu thanh toán. Chủ tài khoản phải chịu trách nhiệm về việc chi trả vượt quá số dư trên tài khoản và chịu phạt theo thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt, (trừ trường hợp đã có thỏa thuận thấu chi với Ngân hàng), chịu trách nhiệm về những sai sót, lợi dụng trên những giấy tờ thanh toán của những người được chủ tài khoản ủy quyền ký thay [8].
Số tiền thanh toán phải dựa trên cơ sở lượng hàng hoá, dịch vụ đã chuyển giao giữa người mua và người bán. Người mua phải chuẩn bị đầy đủ phương tiện thanh toán để đáp ứng yêu cầu thanh toán đầy đủ, kịp thời khi xuất hiện yêu cầu thanh toán. Nếu người mua chậm trễ thanh toán hoặc vi phạm chế độ thanh toán thì phải chịu phạt theo chế tài hiện hành. Người bán hay người cung cấp dịch vụ là người được hưởng số tiền do người chi trả chuyển vào tài khoản của mình nên phải có trách nhiệm giao hàng hay cung cấp dịch vụ kịp thời và đúng với lượng giá trị mà người mua đã thanh toán, đồng thời phải kiểm soát kỹ càng các chứng từ phát sinh trong quá trình thanh toán như kiểm soát các tờ séc của người mua giao hàng khi nhận hàng.
7 --- Khi thực hiện thanh toán qua Ngân hàng, chủ tài khoản phải chấp hành những quy định và hướng dẫn của Ngân hàng về việc lập những giấy tờ thanh toán, phương thức nộp, lĩnh tiền ở Ngân hàng; dấu và chữ ký trên các giấy tờ thanh toán phải đúng mẫu đã đăng ký tại Ngân hàng. Ngân hàng có trách nhiệm kiểm soát các giấy tờ thanh toán của khách hàng, số dư trên tài khoản và chi trả kịp thời theo yêu cầu của khách hàng, mọi sai sót do chủ quan của Ngân hàng làm thiệt hại đến khách hàng đều phải bồi thường theo quy định. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt 1. Thanh toán bằng séc Séc là lệnh trả tiền vô điều kiện do chủ tài khoản ký phát được lập dưới dạng văn bản, yêu cầu ngân hàng trích chuyển một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng (người cầm séc, người có tên trên séc hoặc trả theo lệnh của người xuất trình) [7].
- Các bên tham gia trong thanh toán séc: Người ký phát séc (người phát hành séc): Là người lập và ký tên trên séc, yêu cầu ngân hàng thay mặt mình thanh toán một số tiền cụ thể được ghi trên séc. Người phát hành có thể là chủ tài khoản hoặc được chủ tài khoản uỷ quyền. Người thụ hưởng séc: Là người sở hữu số tiền ghi trên séc. Người thụ hưởng séc được ghi rõ họ tên trên tờ séc (Nếu là séc ký danh) hoặc là người cầm séc (Nếu là séc vô danh).
Người chuyển nhượng séc: Là người chuyển nhượng quyền thụ hưởng séc của mình cho người khác theo luật định. Ngân hàng thu hộ: Là ngân hàng được phép làm dịch vụ thanh toán tiến hành nhận các tờ séc do người thụ hưởng nộp vào để thu hộ tiền cho người thụ hưởng. Ngân hàng thanh toán: Là ngân hàng giữ tài khoản tiền gửi của chủ tài khoản, được phép làm dịch vụ thanh toán. Thực hiện việc trích tiền trên tài khoản tiền gửi của chủ tài khoản để thanh toán cho người thụ hưởng séc khi tờ séc được chuyển nhượng đến.
- Thanh toán bằng séc có những ưu nhược điểm như: Ưu điểm: Thanh toán bằng séc rất thuận lợi và nhanh chóng trong giao dịch mua bán. Người mua hàng ký séc đưa cho người bán và người bán chỉ cần cầm séc và CMND ra ngân hàng là có thể nhận được tiền. Séc có quyền phản kháng với yêu cầu thực hiện Séc như khi Séc bị mất hoặc người phát lệnh bị toà án tuyên bố phá sản, 8 --- và ngân hàng có thể từ chối thanh toán Séc vì một số lý do đặc biệt. Vì vậy, Séc giúp giảm lưu thông tiền mặt trong thị trường nhưng vẫn đảm bảo được khả năng thanh khoản của tiền tệ.
Đồng thời, Séc có thể chặn được một số nghiệp vụ phát sinh do chủ Séc bị mất sổ chứ không như tiền mặt. Nhược điểm: Tuy việc thanh toán bằng séc rất thuận lợi và nhanh chóng trong giao dịch mua bán. Nhưng thực tế, tâm lý của người bán nhận séc thường lo ngại là trên tài khoản của người mua không còn tiền, séc giả, dễ dẫn đến rủi ro trong giao dịch nên hay từ chối việc thanh toán séc. Người dân vẫn nặng thói quen dùng tiền mặt.
Ở các ngân hàng thương mại, hình thức thanh toán bằng séc chiếm tỷ lệ rất thấp (khoảng 2%) trong tổng thanh toán phi tiền mặt; trong đó chủ yếu là thanh toán giữa các doanh nghiệp với nhau, còn thanh toán giữa doanh nghiệp với cá nhân, giữa cá nhân với cá nhân rất ít. Việc thanh toán séc cũng gặp không ít phiền phức. Hiện nay người mua và người bán hàng có tài khoản ở cùng một ngân hàng thì khi người bán đến ngân hàng để nộp séc, ngân hàng sẽ ghi có trên tài khoản người bán và ghi nợ trên tài khoản người mua. Nhưng khi người mua và người bán không có tài khoản ở cùng một ngân hàng, buộc các ngân hàng thương mại phải thông qua hệ thống thanh toán bù trừ của NHNN.
Nếu các ngân hàng phát hành mấy chục ngàn tờ séc mỗi ngày thì việc thanh toán bù trừ trong ngày gặp rất nhiều khó khăn. Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu Ủy nhiệm thu (UNT) là phương thức thanh toán được thực hiện trên cơ sở người bán lập UNT theo mẫu của ngân hàng, để uỷ nhiệm ngân hàng thay mình thu hộ tiền từ người mua hàng hoá, dịch vụ đã được ký kết trên hợp đồng thương mại của hai bên [7]. Để thanh toán bằng UNT, người bán phải cung cấp được hợp đồng thương mại, trong đó nêu rõ thanh toán bằng UNT và số tài khoản tiền gửi thanh toán ở ngân hàng cũng như các chứng từ liên quan chứng minh việc người bán đã cung ứng hàng hoá, dịch vụ cho người mua. * Các bên tham gia trong thanh toán: - Bên mua (bên trả tiền): Thực hiện chi trả cho bên bán theo nội dung UNT.
Bên bán (bên thụ hưởng): Là bên lập UNT để ủy nhiệm cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ bên chi trả. Ngân hàng bên mua: Tiếp nhận UNT do ngân hàng bên bán chuyển đến và thực hiện trích tiền từ tài 9 --- khoản bên mua để thanh toán cho bên bán thông qua ngân hàng bên bán sau khi đã kiểm tra kỹ lưỡng tính hợp lệ của chứng từ thanh toán. Ngân hàng bên bán: tiếp nhận UNT từ người bán và chuyển cho ngân hàng bên mua sau khi đã kiểm tra kỹ lưỡng tính hợp lệ của chứng từ thanh toán. * Thanh toán bằng UNT có các ưu nhược điểm: Ưu điểm: Phạm vi thanh toán rộng, giúp người bán chủ động trong việc thanh toán; bên bán không bị ứ đọng vốn.