mở đầu và kết thúc của một chu trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao và là một phần không thể thiếu trong hoạt động kinh tế. Điều đó thể hiện vai trò 9 đặc biệt quan trọng của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. Vai trò này thể hiện trên các khía cạnh như sau: Thứ nhất, thanh toán không dùng tiền mặt thúc đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ chu chuyển vốn làm rút ngắn chu kỳ sản xuất, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất và tác động trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Bởi, thanh toán không dùng tiền mặt phục vụ cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Một chu kỳ sản xuất, lưu thông hàng hóa được bắt đầu và kết thúc bằng thanh toán, đó là một quá trình mua nguyên vật liệu đầu vào, máy móc thiết bị, trả lương công nhân, đến việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ đầu ra. Do đó, nếu công tác thanh toán được tổ chức nhanh gọn, chính xác, an toàn và hiệu quả thì sẽ rút ngắn được chu kỳ sản xuất, tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn. Đứng ở tầm vi mô, hoạt động thanh toán ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn, đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh đối với từng doanh nghiệp. Thứ hai, thanh toán không dùng tiền mặt tạo nguồn vốn cho các Ngân hàng thương mại, giúp cho Ngân hàng huy động được tối đa nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để tiến hành đầu tư, cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế.
Vì để thực hiện thanh toán được qua Ngân hàng, các cá nhân , doanh nghiệp phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán và gửi tiền vào đó. Do vậy, trên các tài khoản này luôn lưu ký một số dư nhất định để tiến hành cho việc chi trả. Tuy nhiên, không phải lúc nào các lệnh chi trả cũng được tiến hành ngay do phụ thuộc vào quá trình sản xuất kinh doanh, do sự thỏa thuận giữa các bên. Hoặc cũng phát sinh các trường hợp khi một người ủy quyền cho Ngân hàng trích tiền chuyển đi thì một số khác lại có tiền chuyển về.
Đây là một nguồn vốn lớn và tương đối ổn định, nếu Ngân hàng có kế hoạch tốt để sử dụng thì sẽ mang lại hiệu quả cao cho toàn bộ nền kinh tế. Thứ ba, thanh toán không dùng tiền mặt giúp giảm thấp tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông, từ đó giúp giảm thấp chi phí lưu thông của xã hội. Đây là một hình thức tạo ra sự chuyển hóa giữa tiền mặt và tiền chuyển khoản thông qua trung gian thanh toán là Ngân hàng. Cả hai khía cạnh đó đều tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hóa và điều hòa lưu thông tiền tệ.
Kinh tế càng phát triển, khối lượng 10 hàng hóa dịch vụ ngày càng phong phú và đa dạng, thanh toán bằng tiền mặt bộc lộ những hạn chế như: chi phí bảo quản, lưu thông cao; không an toàn; dễ bị tham ô, lợi dụng; giảm vòng quay của vốn làm quá trình sản xuất kinh doanh bị chậm lại, ảnh hưởng tới hiệu quả toàn xã hội. Thanh toán không dùng tiền mặt khắc phục được các nhược điểm đó, kết hợp chặt chẽ với các dịch vụ khác của Ngân hàng nhằm khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để đầu tư trở lại nền kinh tế, làm tăng hệ số tạo tiền cho các Ngân hàng thương mại. Thứ tư, khi nền kinh tế càng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trở thành một trong những công cụ cạnh tranh hiệu quả của Ngân hàng để thu hút khách hàng. Ngày nay, khách hàng đến với Ngân hàng không chỉ để gửi tiền và hưởng lãi mà họ còn mong muốn được sử dụng các dịch vụ tiện ích của Ngân hàng.
Vì vậy một Ngân hàng được gọi là có lợi thế cạnh tranh khi biết khai thác có hiệu quả dịch vụ Ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, mang lại sự tiện ích. Phát triển dịch vụ trong đó có dịch vụ thanh toán. Thứ năm, phục vụ việc chỉ đạo thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân hàng trung ương và NHNN. Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện cho NHNN quản lý một cách tổng thể quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, sử dụng có hiệu quả các công cụ thanh toán kiểm soát mức tạo tiền và tăng tín dụng, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ, là giải pháp tích cực nhằm hạn chế lạm phát, tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế.
Cùng với sự phát triển của kỹ thuật tin học, ngày nay một Ngân hàng hiện đại cũng chuyển hướng kinh doanh bằng việc mở rộng các dịch vụ thay vì chủ yếu kinh doanh chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay như trước, trong đó thanh toán không dùng tiền mặt đóng vai trò trọng tâm và đặc biệt quan trọng.3 Nội dung của phát triển dịch vụ TTKDTM 1.1 Tăng quy mô dịch vụ TTKDTM Quy mô dịch vụ TTKDTM tăng lên đồng nghĩa đồng nghĩa với tiềm lực ngân hàng đó càng mạnh vì đặc thù của các sản phẩm dịch này được xây dựng dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, việc gia tăng các sản phẩm, dịch vụ này cho thấy mức 11 đô công nghệ hóa của bản than ngân hàng ngày càng tăng cao. Việc tăng quy mô dịch vụ TTKDTM bao gồm các hình thức sau: - Gia tăng số lượng sản phẩm, dịch vụ TTKDTM: đây là yếu tố quan trong đầu tiên thể hiện sự phát triển về quy mô dịch vụ ngân hàng số hiện đại bởi khi đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của khách hàng ngân hàng sẻ thu hút được một lượng lớn khách hàng nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh cho đơn vị. - Mở rộng kênh phân phối và phương thức cung cấp dịch vụ: Để tăng hiệu quả sử dụng sản phẩm dịch vụ TTKDTM, cũng như đáp ứng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thì việc mở rộng kênh phân phối và phương thức cung cấp dịch vụ là điều vô cùng cần thiết, nó phản ánh qua tỷ lệ chiếm lĩnh thị phần sử dụng sản phẩm của Ngân hàng mình với các đối thủ cạnh tranh trong ngành. Tuy nhiên việc mở rộng kênh phân phối và phương thức cung cấp dịch vụ là điều vô cùng khó khăn vì do sự chênh lệch về mức sồng, trình độ học vấn, độ tuổi (do đây là sản phẩm có yếu tố kỹ thuật cao).
Vì vậy, nếu mở rộng được thị trường sử dụng dịch vụ TTKDTM thì coi như ngân hàng thật sự phát triển về dịch vụ đó. - Tăng lượng khách hàng sử dụng: mở rộng khách hàng sử dụng tùy theo độ tuổi, giới tính, trình độ,thu nhập… Gia tăng lượng khách hàng sử dụng cũng là tiêu chí để đánh giá sự gia tăng của dịch vụ.2 Đa dạng hóa chủng loại sản phẩm dịch vụ Như chúng ta đã biết, tại Việt Nam, các ngân hàng đã triển khai ngân hàng điện tử từ 5 năm trước đây. Đến nay, sau nhiều năm, hầu hết các đơn vị đều đã có ứng dụng như TTKDTM nhưng chưa thực sự đa dạng bởi đây vẫn được các khách hàng xem là kênh hỗ trợ để chuyển tiền, thanh toán các dịch vụ điện, nước, Internet. online thay vì tối ưu hóa dòng tiền trong tài khoản của mình.
Một số NH đã tích hợp một vài tính năng khác vào Internet Mobile Banking nhưng nhìn chung vẫn còn khá đơn giản. Đa dạng hóa chủng loại sản phẩm dịch vụ TTKDTM là sựu biến đổi danh mục sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng gắn liền với sự phát triển theo nhiều chiều hướng khác nhau. Cố thể định kỳ đánh giá lại khả năng sinh lời và tiềm năng tăng 12 trưởng của các chủng loại sản phẩm, dịch vụ để bộ trợ kịp thời những loại sản phẩm, dịch vụ tốt, cắt giảm và loại bỏ hay bổ sung những chủng loại mới. Ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu và cho ra đời những loại sản phẩm, dịch vụ mới vì đặc điểm của sản phẩm công nghệ thông tin có chu kỳ sống ngắn do sự phát triển mạnh mẻ và liên tục của khoa học công nghệ, nên tốc độ ra đời của các sản phẩm mới là vô cùng nhanh chóng và sẽ thay thế các sản phẩm đã có trước đó.
Theo đó việc đa dạng hóa chủng loại sản phẩm, dịch vụ có thể là: - Hoàn thiện sản phẩm hiện có: hoàn thiện cả về hình thức lẫn nội dung những sản phẩm, dịch vụ hiện có nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh. - Phát triển sản phẩm, dịch vụ mới: điều này có thể mang lại một nguồn lợi lớn và quan trọng đối với một số doanh nghiệp, tuy nhiên cũng đòng nghĩa với rủi ro lớn, chi phí cao, cần phải có sự đầu tư về công nghệ và nghiên cứu thị trường một cách đúng đắn, phân đoạn khách hàng để tìm ra những sản phẩm, dịch vụ thích hợp.3 Nâng cao chất lượng dịch vụ TTKDTM Đầu tư và phát triển dịch vụ TTKDTM là một trong những giải pháp gia tăng tính cạnh tranh, nâng cao vị thế của một ngân hàng trên thị trường sôi động hiên nay. Một trong những cách để có được sự mức độ hài lòng hay lòng trung thành cao của khách hàng đối với các sản phẩm dịch vụ mà NH cung cấp, thì chất lượng các dịch vụ phải cao. Chất lượng dịch vụ càng cao thì lợi thế cạnh tranh càng lớn.
Để nâng cao chất lượng dịch vụ TTKDTM, các NHTM phải lưu ý đến những yếu tố sau: - Đầu tư thêm co sở vật chất, công nghê thông tin nhằm cung cấp dịch vụ nhanh, chinh xác. Tất cả các giao dịch của khách hàng tại ngân hàng đều liên quan đến tiền tệ. Do đó mọi khách hàng đều muốn ngân hàng bảo đảm rằng giao dịch của họ phải được thực hiện một cách chính xác, giảm thiểu các sai sot, lỗi kỹ thuật của hệ thống truyền tải thông tin và rủi ro xảy ra trong quá trình giao dịch. Nếu quá trình này sai sót sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ, gây ảnh hưởng đến uy tín và thu nhập của ngân hàng, gây mất lòng tin về dịch vụ TTKDTM của khách đối với ngân hàng.
Do vậy, một khi hệ thống công nghệ ngân hàng chưa thỏa mãn 13 được tính chính xác và kịp thời của giao dịch, sản phẩm dịch vụ chưa thuận tiện, đơn giản và nhanh chóng thì vẫn chưa được đánh giá là có chất lượng. - Gia tăng sự hài lòng của khách hàng thông qua các dịch vụ hỗ trợ.