phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương, cụ thể: Chƣơng 1. Tổng quan về hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ Chƣơng 2. Thực trạng giao dịch hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ tại các NHTM tỉnh Khánh Hòa. Giải pháp phát triển giao dịch hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ tại các NHTM tỉnh Khánh Hòa 3 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG KỲ HẠN NGOẠI TỆ 1. Những vấn đề cơ bản về hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ 1. Khái niệm Hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ là hợp đồng trong đó hai bên mua và bán cam kết với nhau thực hiện mua hay bán một lượng ngoại tệ nhất định, với một tỷ giá được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng giao dịch, nhưng thực hiện thanh toán tại thời điểm xác định trong tương lai. Trong hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ, người mua hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ được gọi là người giữ vị thế trường vị (long position), người bán hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ được gọi là người giữ vị thế đoản vị (short position).
Người giữ vị thế trường vị sẽ có được lợi nhuận nếu đến hạn thanh toán tỷ giá giao ngay trên thị trường cao hơn tỷ giá kỳ hạn và người ở vị thế đoản vị sẽ bị lỗ đúng bằng số tiền người ở vị thế trường vị lời. Và ngược lại, khi tỷ giá kỳ hạn cao hơn tỷ giá giao ngay vào ngày thanh toán, người ở vị thế trường vị bị lỗ và người ở vị thế đoản vị kiếm được lợi nhuận. Lợi nhuận của vị thế trƣờng vị Lợi nhuận 0 K tỷ giá Giá trị lúc đáo hạn hoặc giá trị đến hạn của vị thế trường vị trên hợp đồng kỳ hạn của một đơn vị ngoại tệ là St – K 4 Hình 1. Lợi nhuận của vị thế đoản vị Lợi nhuận 0 K tỷ giá Giá trị lúc đáo hạn hoặc giá trị đến hạn của vị thế đoản vị trên hợp đồng kỳ hạn của một đơn vị ngoại tệ là K - St Với: - K: Giá chuyển giao thỏa thuận ban đầu - St: tỷ giá giao ngay lúc hợp đồng đến hạn.
Lịch sử hình thành và phát triển hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ Hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ là một loại công cụ phái sinh tiền tệ. Công cụ phái sinh tiền tệ là những hợp đồng tài chính được phát hành trên cơ sở giá trị của các đồng tiền, được sử dụng để bảo hiểm rủi ro hoặc dùng để đầu cơ. Xét về lịch sử phát triển, nguồn gốc của các công cụ phái sinh có thể bắt đầu từ thế kỷ thứ 6 trước công nguyên. Nhà triết học nổi tiếng của Hy Lạp, Thales được xem là người đầu tiên sử dụng công cụ phái sinh.
Thales ký một hợp đồng để đảm bảo quyền mua quả ô liu, hợp đồng này rất giống hợp đồng quyền chọn ngày nay. Trong suốt thế kỷ thứ 12, thương mại phát triển ở Châu Âu, các thương nhân phải chở hàng hoá bằng thuyền từ châu lục này sang châu lục khác để bán kiếm lợi nhuận. Nhưng quá trình này gặp rủi ro do đắm tàu và dẫn đến thua lỗ. Để giải quyết vấn đề này, những thương nhân phát hành thư mua bán, được xem như hợp đồng kỳ hạn.
Những lá thư này là bằng chứng cho việc mua bán giữa khách hàng và thương nhân. Theo đó, thương nhân phải giao hàng hoá bất cứ khi nào khách hàng yêu cầu. Từ đó trở đi, các thương nhân cũng mua bán hàng hoá theo hình thức này với nhau. Vào thế kỷ thứ 17, ở Nhật, các vua quan thời phong kiến đã từng phát hành các 5 phiếu cất trữ hàng hoá trên số lượng gạo thặng dư, các phiếu này đảm bảo cho việc giao hàng trong tương lai.
Thị trường gạo của Dojima cũng mua bán các phiếu cất trữ hàng hoá này. Vào thế kỷ thứ 19, nông dân và thương gia bắt đầu sử dụng hợp đồng kỳ hạn trên các nông sản để bảo hiểm các khoản rủi ro do bất ổn về giá. Vào những năm 50 và 60 của thế kỷ 19, thị trường đồng tiền Châu Âu được hình thành và phát triển để đáp ứng nhu cầu vốn cho sự lớn mạnh của các công ty đa quốc gia. Đồng tiền Châu Âu là tên gọi chung để chỉ những đồng tiền lưu hành ở những nước không phải là nơi phát hành.
Thị trường đồng tiền Châu Âu bao gồm nhiều ngân hàng lớn trên thế giới chấp nhận các khoản tiền gửi và cho vay bằng nhiều đồng tiền khác nhau. Chính sự phát triển thị trường tiền gửi của những đồng tiền Châu Âu vào thời gian này đã thúc đẩy và tạo điều kiện cho quá trình kinh doanh chênh lệch lãi suất được ứng dụng trong thực tiễn và đạt hiệu quả cao, có mối liên hệ với thị trường ngoại tệ và thị trường tiền tệ ở những quốc gia lớn, và cân bằng hóa lợi nhuận thông qua hai thị trường này. Với tính chất rộng lớn và thanh khoản của thị trường tiền gửi của những đồng tiền Châu Âu, và với sự truyền tải thông tin nhanh, các nhà đầu tư nhanh chóng và dễ dàng tìm ra sự chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia và tận dụng ngay bất kỳ sự chênh lệch lãi suất xảy ra. Việc gửi tiền ở nước không phải là nơi phát hành thường không gặp cản trở từ thuế, quy định nghiêm ngặt của Chính phủ… nhanh chóng trở nên tiện lợi cho thị trường ngoại tệ.
Thị trường tiền gửi của những đồng tiền Châu Âu được các ngân hàng và các nhà kinh doanh chênh lệch lãi suất vận dụng. Các giao dịch tiền gửi được thực hiện thông qua điện thoại giống thị trường ngoại tệ, với những điểm chênh lệch, ngày thiết lập giao dịch và những thỏa thuận khác tương tự như thị trường ngoại tệ. Những nhà môi giới để ý đến lãi suất ở thị trường Luân đôn khi định giá tỷ giá kỳ hạn cho những đồng tiền lớn ở thị trường ngoại tệ. Đối với những đồng tiền không được giao dịch ở thị trường tiền gửi của những đồng tiền Châu Âu, việc gửi tiền trong nước có thể cung cấp một kênh kinh doanh chênh lệch tỷ giá kỳ hạn và lãi suất.
Vào đầu thập niên 70, khi chế độ tỷ giá cố định theo Hệ thống Bretton Woods sụp đổ, Chính phủ các nước có đồng tiền mạnh không kiểm soát chặt tỷ giá mà thay vào đó thả nổi đồng tiền. Từ đó, thị trường kỳ hạn tiền tệ phát triển và tăng trưởng 6 nhanh chóng. Các hợp đồng kỳ hạn tiền tệ được các ngân hàng và các tập đoàn sử dụng rộng rãi để quản lý rủi ro tỷ giá. Theo số liệu thống kê ba năm thực hiện một lần của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế BIS, trong số các giao dịch ngoại tệ toàn cầu trên thị trường OTC vào năm 2010, các hợp đồng kỳ hạn chiếm 12%.
Tuy giao dịch kỳ hạn chiếm tỷ trọng thấp trong tổng số giao dịch ngoại tệ nhưng khá ổn định kể từ năm 2001 đến nay và có sự tăng trưởng về giá trị: năm 2001 tăng 1,56% so năm 1998, năm 2004 tăng 60,70% so năm 2001, năm 2007 tăng 73,21% so năm 2004 và năm 2010 tăng 31,22% so với năm 2007. Giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2010, giao dịch kỳ hạn ngoại tệ trên thế giới có tốc độ tăng chậm hơn so với những giai đoạn trước là do sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008-2009. Giá trị và tỷ trọng các giao dịch ngoại tệ trên thị trƣờng OTC toàn cầu từ năm 1998 đến năm 2010 Đơn vị tính: tỷ USD 1998 2001 2004 2007 2010 Loại giao Tỷ Tỷ Tỷ Tỷ Tỷ Giá Giá Giá Giá Giá dịch trọng trọng trọng trọng trọng trị trị trị Trị trị (%) ( %) (%) (%) (%) Giao ngay 568 37 386 31 631 33 1,005 30 1,490 37 Kỳ hạn 128 8 130 11 209 11 362 11 475 12 Hoán đổi tỷ giá 734 48 656 53 954 49 1,714 52 1,765 44 Hoán đổi tiền tệ 10 1 7 1 21 1 31 1 43 1 Quyền chọn và các công cụ khác 87 6 60 5 119 6 212 6 207 5 Tổng cộng 1,527 100 1,239 100 1,934 100 3,324 100 3,981 100 (Nguồn: BIS) 7 Hình 1. Cơ cấu các giao dịch ngoại tệ trên thị trƣờng OTC năm 2010 1% 5% 37% 44% 12% Giao ngay Kỳ hạn Hoán đổi tỷ giá Hoán đổi tiền tệ Quyền chọn (Nguồn: BIS) Giá trị giao dịch hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ toàn cầu chia theo kỳ hạn Nếu chia theo kỳ hạn giao dịch thì kỳ hạn từ 1 năm trở lại là chủ yếu, chiếm từ 96% đến 98% tổng số giao dịch kỳ hạn ngoại tệ, giao dịch kỳ hạn từ trên 7 ngày đến 1 năm cao hơn các giao dịch với kỳ hạn đến 7 ngày khoảng từ 10% đến 20%.
Giao dịch kỳ hạn ngoại tệ toàn cầu chia theo kỳ hạn Đơn vị tính: tỷ USD 1998 2001 2004 2007 2010 Tỷ Tỷ Tỷ Tỷ Tỷ Kỳ hạn Giá Giá Giá Giá Giá trọng trọng trọng trọng trọng trị trị trị Trị trị (%) (%) (%) (%) (%) Đến 7 ngày 65 51 50 39 93 44 155 43 219 46 Từ trên 7 ngày đến 1 năm 58 45 76 58 111 53 200 55 245 52 Trên 1 năm 5 4 4 3 5 3 7 2 11 2 Tổng cộng 128 100 130 100 209 100 362 100 475 100 (Nguồn: BIS) 8 Giá trị giao dịch hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ toàn cầu chia theo đối tƣợng khách hàng giao dịch Theo phân loại của Ngân hàng Thanh toán quốc tế thì các tổ chức tài chính bao gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và các công ty chứng khoán thực hiện mua bán tiền tệ và các sản phẩm phái sinh trên thị trường OTC cho chính họ và theo nhu cầu của các khách hàng như tập đoàn, chính phủ và các tổ chức tài chính khác. Các tổ chức tài chính khác bao gồm những tổ chức tài chính không thuộc loại trên như quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, ngân hàng trung ương …Khách hàng khác là bất kỳ khách hàng nào thực hiện giao dịch kỳ hạn không thuộc hai loại đối tượng tổ chức tài chính nói trên. Nếu chia theo đối tượng khách hàng giao dịch thì vào năm 2010, giá trị giao dịch do các tổ chức tài chính thực hiện chiếm 24% tổng giao dịch kỳ hạn ngoại tệ, tổ chức tài chính khác chiếm 54% và khách hàng khác chiếm 22%. Trong khi đó, các tỷ trọng này vào năm 1998 lần lượt là 38%, 27% và 35%.
Các tổ chức tài chính và các khách hàng khác có tỷ trọng theo xu hướng giảm dần từ năm 1998 đến năm 2010.