phần mở đầu, kết luạ n, lời cảm o n, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục so đồ, hình vẽ và danh mục từ viết tắt thì luạ n va n đu ợc cấu trúc gồm 3 chu o ng: Chu o ng 1: Co sở lý luạ n và thực tiễn về phát triển nguồn nha n lực công nghệ trong doanh nghiẹ p Công nghệ thông tin 7 Chu o ng 2: Thực trạng phát triển đội ngũ Tư vấn Giải pháp và phát triển phần mềm tại Công ty TNHH Nextop Chu o ng 3: Giải pháp phát triển đội ngũ Tư vấn Giải pháp và phát triển phần mềm tại Công ty TNHH Nextop 8 Chu o ng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Công nghệ thông tin Thuật ngữ "Công nghệ thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng.
Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT)”[31]. Theo Luật Công nghệ thông tin, “Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là tập hợp các các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”[1, Tr. “Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”[1, Tr. “Phát triển công nghệ thông tin là hoạt động nghiên cứu - phát triển liên quan đến quá trình sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số; phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin; phát triển công nghiệp công nghệ thông tin và phát triển dịch vụ công nghệ thông tin”[1, Tr.
Doanh nghiệp công nghệ thông tin Các loại hình công nghiệp CNTT bao gồm: Công nghiệp phần cứng là công nghiệp sản xuất các sản phẩm phần cứng, bao gồm phụ tùng, linh kiện, thiết bị số. Công nghiệp phần mềm là công nghiệp sản xuất các sản phẩm phần mềm, bao gồm phần mềm hệ thống, phần mềm ứng dụng, phần mềm điều 9 khiển, tự động hóa và các sản phẩm tương tự khác; cung cấp các giải pháp cài đặt, bảo trì, hướng dẫn sử dụng. Công nghiệp nội dung là công nghiệp sản xuất các sản phẩm thông tin số, bao gồm thông tin kinh tế - xã hội, thông tin khoa học - giáo dục, thông tin văn hóa - giải trí trên môi trường mạng và các sản phẩm tương tự khác Từ các nghiên cứu, khái niệm doanh nghiệp CNTT được hiểu là doanh nghiệp CNTT là doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ công nghệ thông tin bao gồm phần cứng, phần mềm và công nghiệp nội dung bằng cách sử dụng hệ thống các thiết bị và máy tính để cung cấp giải pháp xử lý thông tin trên nền công nghệ cho các cá nhân, tổ chức có yêu cầu. Nguồn nhân lực công nghệ trong doanh nghiệp CNTT Một số khái niẹ m về nguồn nha n lực trong doanh nghiệp như sau: Theo Bùi Văn Nhơn (2006) trong sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội xuất bản thì: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”[3.
Tr 72] Theo giáo trình Quản trị nhân lực, đại học kinh tế quốc dân do Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2004) thì khái niệm này được hiểu như sau: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”[4. Tr 8] Trong luận văn này khái niệm về nguồn nhân lực công nghệ trong doanh nghiệp CNTT bao gồm tất cả những người lao động có sức khoẻ, trình độ khác nhau, tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp viễn thông, công nghiệp CNTT, ứng dụng CNTT, điện tử - viễn thông, v. Nguồn nhân lực công nghệ trong doanh nghiệp CNTT bao gồm 04 chức danh cơ bản sau: An toàn thông tin, Quản trị viên hệ thống, Kiểm định viên công nghệ thông tin, Phát triển phần mềm. 10 An toàn thông tin: thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến phân tích thiết kế các hệ thống đảm bảo an toàn cho các hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu (CSDL) chuyên ngành, cơ sở dữ liệu tích hợp Quản trị viên hệ thống: thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến quản lý dịch vụ CNTT, quản trị các hệ thống mạng thông tin, mạng máy tính Kiểm định viên CNTT: thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến kiểm tra, đánh giá tính tuân thủ các yêu cầu, quy định, chính sách về CNTT, an toàn thông tin Phát triển phần mềm: thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến phân tích các yêu cầu trong các thiết kế của các hệ thống thông tin, CSDL, các hệ phần mềm ứng dụng và tiến hành lập trình theo ngôn ngữ phù hợp.
Phát triển nguồn nhân lực công nghệ trong doanh nghiệp CNTT Theo Quyết định số 05/2007/QĐ-BTTT của Bộ thông tin và truyền thông: “Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin phải gắn kết chặt chẽ với quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đổi mới giáo dục đại học. Đổi mới cơ bản và toàn diện đào tạo nhân lực công nghệ thông tin theo hướng hội nhập và đạt trình độ quốc tế, tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế”[5. Tr 8] Từ việc nghiên cứu, thu thập thông tin, tác giả cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực công nghệ trong doanh nghiệp CNTT đòi hỏi nguồn nhân lực công nghệ được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn, đáp ứng được các yêu cầu về xu thế thị trường, xu thế công nghệ. Quá trình đó liên quan đến các hoạt động: Hoạch định nhân lực công nghệ; Thu hút và tuyển chọn nha n lực công nghệ; Bố trí sử dụng và giữ chân nhân tài trong đội ngũ nhân lực công nghệ; Đào tạo và phát triển nhân lực công nghệ.
Các hoạt đọ ng tre n nhằm tăng cường về số lượng và chất lượng của đội ngũ, đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực trong doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai. Các hoạt động phát triển nguồn nhân lực công nghệ trong doanh nghiệp CNTT 1. Hoạch định nhân lực công nghệ “Hoạch định nha n lực là quá trình nghie n cứu, xác định nhu cầu nguồn nha n lực, đu a ra các chính sách và thực hiẹ n các chu o ng trình, hoạt đọ ng đảm bảo cho tổ chức có đủ nha n lực với các phẩm chất, kỹ na ng phù hợp để thực hiẹ n co ng viẹ c có na ng suất, chất lu ợng và hiẹ u quả cao”[6, tr.300] Hoạch định nhân lực công nghệ trong doanh nghiệp CNTT là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu về nhân lực công nghệ phục vụ cho các yêu cầu về sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đưa ra các chính sách và thực hiện các chương trình, hoạt động đảm bảo cho doanh nghiệp CNTT có đủ nhân lực với các phẩm chất, kỹ năng chuyên môn phù hợp để thực hiện công việc với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. Cơ sở hoạch định nhân lực công nghệ trong doanh nghiệp CNTT cần dựa trên: Phân tích môi trường kinh doanh CNTT, xác định mục tiêu và chiến lược phát triển của doanh nghiệp: việc phân tích cần làm rõ được thế mạnh về nguồn nhân lực công nghệ của doanh nghiệp là gì? Khả năng tìm kiếm nhân lực công nghệ đáp ứng phù hợp với các yêu cầu về trình độ kỹ thuật, mức độ phức tạp của mỗi loại sản phẩm và dịch vụ CNTT mà doanh nghiệp cung cấp là như thế nào? Các chính sách, pháp luật liên quan đến CNTT có ảnh hưởng gì đến các chính sách của doanh nghiệp? Định hướng phát triển nghề nghiệp của đội ngũ nhân lực công nghệ tại doanh nghiệp theo định hướng nào? Trên cơ sở các thông tin thu được và các dự đoán về thị trường CNTT để quyết định mục tiêu và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
12 Phân tích dự báo cầu nhân lực công nghệ trong doanh nghiệp CNTT: cầu nhân lực sẽ được dự báo trên cơ sở về số lượng, chất lượng hay chính là khối lượng công việc và khả năng thực hiện công việc của mỗi nhân lực ở từng giai đoạn khác nhau, mức lao động và khả năng tăng năng suất lao động. Phân tích dự báo cung nhân lực công nghệ trong doanh nghiệp CNTT: là lượng nhân lực tương ứng với mỗi chức danh công việc mà doanh nghiệp đã và đang có, hiện đang làm việc và sẵn sàng làm việc cho doanh nghiệp khi cần. Phân tích thực trạng cân đối cung – cầu nhân lực công nghệ trong doanh nghiệp CNTT: Cung – cầu nhân lực luôn có ba khả năng phổ biến xảy ra như sau: Cung không đáp ứng cầu: là tình trạng lượng nhân lực công nghệ cần có ở một số vị trí công việc hoặc toàn bộ các vi trí công việc nhiều hơn lượng nhân lực có thể thực hiện công việc mà tổ chức sẵn có. Cung vượt quá cầu: là tình trạng mà lượng nhân lực trong doanh nghiệp đang có nhiều hơn so với lượng nhân lực tổ chức cần để thực hiện công việc.
Vừa thừa – vừa thiếu: đây là tình trạng phổ biến nhất trong các doanh nghiệp, là tình trạng mà có chức danh công việc thì cung vượt quá cầu, có chức danh công việc khác thì cung lại không đáp ứng cầu. Ngoài ra, còn có một khả năng là “Cân đối cung - cầu”: là trạng thái mà cung nhân lực vừa đủ để đáp ứng cầu nhân lực ở mọi chức danh công việc. Đây là trạng thái rất hiếm khi đạt được. Kết quả hoạch định nhân lực công nghệ trong doanh nghiệp CNTT cho thấy tình trạng nhân lực hiện tại của doanh nghiệp: mức độ dư thừa, thiếu hụt hay đáp ứng đủ của nguồn nhân lực công nghệ cả về số lượng và chất lượng, và trả lời cho các vấn đề sau: Số lượng (SL) nhân lực công nghệ trong doanh nghiệp so với cầu nhân lực của doanh nghiệp đáp ứng bao nhiêu %.