CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG ANH TIỂU HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về đội ngũ giáo viên và đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học Trong những thập niên gần đây có nhiều công trình nghiên cứu về ĐNGV nói chung và ĐNGVTA nói riêng. Đa số những công trình nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu về năng lực của GV.
Một số công trình nghiên cứu như: Nguyễn Thị Bình (2013) trong đề tài nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phổ thông. Với đề tài này đã đặt ra GV những năng lực gồm: năng lực tìm hiểu học sinh; năng lực giao tiếp; năng lực dạy học; năng lực đánh giá; năng lực hoạt động xã hội [22]. Đối với GVTA ở tiểu học đang đứng trước việc đổi mới dạy và học tiếng Anh. Trước yêu cầu triển khai thực hiện Đề án dạy và học Ngoại ngữ Quốc gia, đã có một số công trình nghiên cứu năng lực của GVTA như Lê Văn Canh (2012), Áp dụng khung tham chiếu Châu Âu: dạy, học, đánh giá vào điều kiện Việt Nam - Những vấn đề cân nhắc; Hoàng Văn Hoạt (2012), Ứng dụng khung quy chiếu Châu Âu trong thực tiễn dạy và học ngoại ngữ hiện nay tại Việt Nam… Các công trình nghiên cứu trên đều tập trung nghiên cứu tìm hiểu CEFR để từ đó rút ra các bài học áp dụng vào dạy và học Ngoại ngữ ở Việt Nam đạt hiệu quả tốt nhất.
Như vậy, những công trình nghiên cứu trên đề cập đến năng lực GV nói chung và GVTA nói riêng để nâng cao chất lượng đội ngũ đáp ứng yêu cầu của môn học. Các công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học Khi xác định đội ngũ giáo viên là nguồn nhân lực của một lĩnh vực cụ thể, các nhà nghiên cứu đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến phát triển đội ngũ giáo viên (quản lý đội ngũ giáo viên) theo tiếp cận lý thuyết quản lý nguồn nhân lực cụ thể: Nguyễn Phúc Châu (2010), phát triển đội ngũ trong một tổ chức là hoạt động nhằm tạo ra một lực lượng lao động đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, đồng bộ về cơ cấu đáp ứng được nhiệm vụ và chức năng của tổ chức đó, đồng thời đáp ứng được yêu cầu phát triển KT-XH. Ông cho rằng: “Đội ngũ của một tổ chức cũng chính là nguồn nhân lực của tổ chức đó, vì vậy việc phát triển đội ngũ cũng chính là phát triển nguồn nhân lực” [21]. Trần Kiểm, nội dung quản lý đội ngũ giáo viên phải mang tính toàn diện, chú trọng trên cả ba mặt: nhận thức, hành vi, thái độ, cần phải chú ý đến vấn đề tuyển dụng và sử dụng và chú trọng công tác tập sự của giáo viên sau khi tuyển dụng [27].
Từ các nghiên cứu trên có thể khái quát, phát triển đội ngũ GVTA được nghiên cứu với các nội dung: Lập kế hoạch phát triển; Tuyển dụng, sử dụng; Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ; Tạo môi trường phát triển; Kiểm tra, đánh giá công tác phát triển đội ngũ. 10 Trong thời gian gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý nguồn nhân lực của những tác giả như: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phan Văn Kha, Trần Kiểm…, Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu về quản lý ĐNGVTA ở tiểu học của tác giả Lê Thị Thanh Thuỷ đã khái quát cụ thể hơn về quản lý nguồn nhân lực ở lĩnh vực cụ thể. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Quản lý Trần Kiểm (2004) cho rằng: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức nhằm đạt mục đích nhất định”.
Ông cũng cho rằng: “Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý, song có chung những dấu hiệu chủ yếu: Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội được tác động có tính hướng đích và có sự phối hợp của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức” [27]. Quản lý giáo dục * Đối với cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục. * Đối với cấp vi mô: Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. Từ những khái niệm trên, dù là cấp vĩ mô hay vi mô, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố quản lý giáo dục đó là: chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý (đối 11 tượng quản lý), khách thể quản lý và mục tiêu quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau: [27] Chủ Đối Khách thể tượng Mục tiêu thể quản quản quản lý lý quản lý lý Sơ đồ 1.1: Sơ đồ khái niệm quản lý giáo dục 1.
Quản lý nhà trường Phạm Viết Vượng (2000), có nêu “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [24]. Đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học Luật Giáo dục (2005) quy định “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong các nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác”. Nhà giáo dạy các cơ sở giáo dục phổ thông gọi là giáo viên [16]. Điều lệ trường tiểu học (2010) đã nêu “Giáo viên làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh trong trường tiểu học và cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học” [2].
Như vậy, giáo viên tiếng Anh tiểu học là giáo viên dạy môn tiếng Anh tại các trường tiểu học. Từ điển Giáo dục học (2001) định nghĩa, “đội ngũ giáo viên là tập thể những người đảm nhiệm công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định; là lực lượng quyết định hoạt động giáo dục của nhà trường” [12]. Như vậy, có thể hiểu ĐNGVTA ở tiểu học là lực lượng giáo viên (tập hợp giáo viên trong một trường tiểu học hoặc trong một huyện…) thực hiện dạy chương trình tiếng Anh tại các trường tiểu học theo quy định của Bộ GD&ĐT. Phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học Lê Thị Thanh Thuỷ (2016) cho rằng: “phát triển đội ngũ” về cơ bản điều mang các thành tố như: Lập kế hoạch quy hoạch phát triển đội ngũ; Tuyển dụng, sử dụng đội ngũ; Sắp xếp, bố trí công việc một cách hợp lý, phù hợp với số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ; Thực hiện các chính sách chế độ để đảm bảo sức khoẻ và dinh dưỡng cho giáo vên, tăng cường cơ chế dân chủ hoá trong nhà trường, giải phóng giáo viên khỏi những việc làm không cần thiết giúp họ tự phát triển bản thân, tạo ra môi trường làm việc tốt nhất, đảm bảo tính hợp lý, tính xã hội hoá và tính đồng thuận trong tổ chức…[20].
Như vậy, phát triển ĐNGV trong giáo dục là sự phát triển của đội ngũ những người làm nghề dạy học hoặc tham gia vào quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục ở các cơ sở giáo dục. Phát triển đội ngũ giáo viên là làm cho đội ngũ không ngừng biến đổi, trở thành những con người có năng lực và phẩm chất cao hơn, tốt hơn, thỏa mãn nhu cầu phát triển của thời đại. Phát triển đội ngũ giáo viên là tạo ra một đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu chuyên môn, độ tuổi, giới tính, đáp ứng yêu cầu nhân lực giảng dạy và giáo dục của nhà trường, thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. Đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học 1.
Vai trò của giáo viên tiếng Anh tiểu học Trong Luật Giáo dục (2019), quy định: “Nhà giáo có vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục, có vị thế quan trọng trong xã hội, được xã hội tôn vinh” [17]. Giáo dục tiểu học là cấp học cơ sở của giai đoạn giáo dục bắt buộc. Nhiệm vụ của giáo dục ở giai đoạn này là xây dựng nền móng về phẩm chất và năng lực của những công dân tương lai. Khi Đề án dạy học Ngoại ngữ Quốc gia ra đời (2008) môn tiếng Anh trở thành môn học bắt buộc trong 13 chương trình tiểu học (từ lớp 3), từ đó làm thay đổi nhận thức cũng như hành động của dạy học tiếng Anh ở tiểu học.
Mục tiêu của Đề án tạo ra nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập có năng lực cạnh tranh trên toàn cầu, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển Đất nước; tạo nền tảng đến năm 2025 phổ cập ngoại ngữ cho giáo dục phổ thông [26]. Trước mục tiêu trên và Chương trình GDPT môn tiếng Anh (2018), ĐNGV sử dụng phương pháp giáo dục chủ đạo là đường hướng dạy ngôn ngữ giao tiếp, cho phép sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau, nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển năng lực giao tiếp của HS thông qua các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết.