CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về dịch vụ thẻ ngân hàng 1. Khái niệm về thẻ ngân hàng Hiện nay, thẻ Ngân hàng đã trở thành phương tiện thanh toán phổ biến trên thế giới. Bởi nó mang lại nhiều tiện ích và lợi ích cho người sử dụng thẻ như mua hàng, rút tiền mặt, chuyển khoản, kiểm tra kê tài khoản, giao dịch mua bán qua Internet, trả cước phí dịch vụ công cộng, vừa sử dụng tiền vay nếu được Ngân hàng chấp nhận.
Tuy nhiên quan niệm về thẻ Ngân hàng tuỳ thuộc theo, góc độ nghiên cứu: Theo Luật hệ thống thanh toán của CHDCND Lào, số 32/QH, ngày 07/11/2019, thẻ ngân hàng được quy định tại điều 16 Chương II cụ thể như sau: “Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán bao gồm thẻ tiền gửi và thẻ tín dụng mà áp dụng thanh toán hàng hóa, dịch vụ và các giao dịch tài chính thông qua máy nhận thanh toán thẻ như: máy POS, máy rút –nhận tiền gửi tự động (ATM) và thông qua mạng internet theo yêu cầu của người cung cấp dịch vụ thanh toán”. Phân loại thẻ ngân hàng Việc phân loại thẻ Ngân hàng dựa trên những căn cứ khác nhau: 1.1 Theo công nghệ sản xuất. Thẻ Ngân hàng được phân thành 5 loại: - Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): là loại thẻ được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi. Trên bề mặt thẻ những thông tin cần thiết được khắc nổi.
Hiện nay người ta không dùng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật sản xuất quá thô sơ, dễ bị làm giả. Thẻ khắc chữ nổi của thẻ ngân hàng BCEL: 8 - Thẻ từ (Magnetic stripe), được phủ một lớp băng từ với hai hoặc ba giải ghi các thông tin cần thiết. Các thông tin này thường là thông tin cố định về chủ thẻ và về thẻ cũng như số liệu kết nối. Khi trình độ công nghệ phát triển, nó đã bộc lộ những yếu điểm như dễ bị lợi dụng do thông tin ghi trong thể không tự mã hoá được, có thể đọc thẻ dễ dàng nhờ thiết bị đọc gắn với máy vi tính, thẻ chỉ mang thông tin cố định; khu vực chứa tin hẹp, không áp dụng các kỹ thuật đảm bảo an toàn.
Thẻ từ của thẻ Ngân hàng Sacombank: - Thẻ thông minh (Smart Card), thẻ được sản xuất dựa trên nền tảng kỹ thuật vi xử lý. Mặt trước của thẻ được gắn một chip điện tử theo nguyên tắc xử lý như một máy tính nhỏ. Hiện nay, thẻ thông minh được sử dụng rất phổ biến trên thế giới vì có ưu điểm về mặt kỹ thuật độ an toàn cao, khó làm giả được, ngoài ra còn làm cho quá trình thanh toán thuận tiện, an toàn và nhanh chóng hơn. Thẻ thông minh của Ngân hàng Agribank Việt Nam: 9 - Thẻ từ có chip, là loại thẻ từ có gắn chíp, nhằm mục đích sử dụng được cả trên 2 hệ thống chấp nhận thanh toán thẻ từ và hệ thống thanh toán thẻ chip.
Thẻ từ có gắn chip của Ngân hàng BIDV Việt Nam: - Thẻ chip: Thẻ chip là loại thẻ thông minh (Smart Card) lưu trữ thông tin đã được mã hóa và gắn thông tin đó lên con chip, bên trong thẻ có bộ vi xử lý nhỏ với chức năng như một bộ máy tính thu nhỏ và hoàn toàn độc lập. Quy trình giao dịch bằng thẻ chip cần phải trải qua 8 bước gửi và xác thực thông tin với độ bảo mật cao. Thẻ chip của Ngân hàng Quốc tế VIB: 10 1. Xét theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ.
Thẻ Ngân hàng được phân thành 2 loại: - Thẻ nội địa, là loại thẻ chỉ được sử dụng để thanh toán trong phạm vi một quốc gia, do các Ngân hàng của quốc gia phát hành. Thẻ ghi nợ nội địa của Ngân hàng Vietcombank: - Thẻ quốc tế, là thẻ được sử dụng để thanh toán trên phạm vi toàn cầu. Ưu điểm của thẻ quốc tế là sự tiện lợi đối với khách hàng thường xuyên phải đi công tác, hoặc đi du lịch ở nước ngoài, hoặc đơn giản sử dụng để thanh toán trong nước. Tuy nhiên, khách hàng sử dụng thẻ quốc tế thường phải chịu nhiều chi phí hơn so với thẻ nội địa, trong đó đặc biệt là các chi phí liên quan đến việc chuyển đổi ngoại tệ giữa các quốc gia.
Thẻ ghi nợ quốc tế của Ngân hàng Vietinbank: 11 1. Xét theo bản chất kinh tế và nội dung phát hành. Thẻ Ngân hàng được phân thành 4 loại: - Thẻ ghi nợ (debit card), là loại thẻ mà chủ thẻ sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt. Người sử dụng thẻ ghi nợ phải có tài khoản tại Ngân hàng.
phát hành thẻ và đảm bảo có đủ số dư trên tài khoản tiền gửi để sử dụng thẻ, người sử dụng thẻ chỉ được thanh toán trong phạm vi số dư này. Thẻ ghi nợ nội địa của Ngân hàng Nam Á: - Thẻ tín dụng (Credit Card), là loại thẻ mà chủ thẻ được Ngân hàng phát hành thẻ cấp cho một hạn mức tín dụng để sử dụng thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, hoặc rút tiền mặt trong một khoản tín dụng nào đó. Thẻ tín dụng quốc tế của Sacombank: Thẻ tín dụng quốc tế của Sacombank: 12 - Thẻ du lịch và giải trí (Travel and Entertainment Card – T&E Card), người dùng thẻ này không phải trả lãi nhưng phải thanh toán trong thời hạn một tháng. Chủ thẻ của loại thẻ này chủ yếu là doanh nhân đi du lịch và những người có thu nhập cao, đồng thời số điểm chấp nhận thanh toán loại thẻ này cũng ít.
Loại thẻ này gồm: American Express Card và Diner Club. Để kích thích và tạo thể cạnh tranh, khi sử dụng loại thẻ này, chủ thể thường được hưởng thêm một số dịch vụ miễn phí. Thẻ du lịch và giải trí của Diner Club: - Thẻ thanh toán tiêu dùng (Charge Card): Đây là loại thẻ tín dụng phi Ngân hàng. Khác với thẻ tín dụng do Ngân hàng phát hành, thẻ này không yêu cầu phí lãi suất, nhưng đòi hỏi người sử dụng phải thanh toán hết khi nhận được báo cáo, thường là hàng tháng.
Khi tới kỳ thanh toán hàng tháng, khách hàng chỉ phải thanh toán một khoản tối thiểu nào đó, số còn lại sẽ trả dần dần, cộng với lãi. Mặc dù khác với thẻ tín dụng Ngân hàng những lợi ích chính của thẻ thanh toán tiêu dùng chính là giới 13 hạn chi tiêu của chúng cao hơn thẻ tín dụng Ngân hàng rất nhiều, thường là không giới hạn.4 Xét từ góc độ nghiệp vụ Ngân hàng. Thẻ Ngân hàng được chia thành 3 loại: - Thẻ tài khoản, được phát hành dựa trên cơ sở số dư tiền gửi của chủ thẻ tại Ngân hàng, hiện nay loại này chủ yếu gồm: 1. Maestro (do Master Card phát hành) được sử dụng rộng rãi ở Nam Mỹ và khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Plus (do Visa phát hành), được sử dụng nhiều ở Châu Âu, nhất là Pháp. JCB (do Ngân hàng Nhật Bản phát hành) được sử dụng nhiều ở Châu Á và một số nước Châu Âu. Thẻ Circus (do Visa phát hành) và ATM Master Card (do Mastercard phát hành) được sử dụng chủ yếu qua máy ATM. Thẻ tài khoản JCB: - Thẻ tín dụng, phát hành trên cơ sở tín dụng, gồm: 1.
Visa Card (do Visa International phát hành) được sử dụng khắp thế giới nhưng nhiều nhất là Châu Âu. Master Card (do Mastercard phát hành) cũng được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu. Amex (do American Expense phát hành) sử dụng nhiều ở Bắc Mỹ. Thẻ Master Card của ngân hàng BIDV: 14 - Thẻ tài khoản và tín dụng: (Do Ngân hàng Pháp phát hành): loại thẻ này được phát hành trên cơ sở tiền gửi nhưng được cấp một hạn mức sử dụng vượt quá số dư (over draft).
Thông thường thể sử dụng số dư tiền gửi của chủ thẻ, khi hết nó sẽ tự động chuyển sang cơ chế thẻ tín dụng. Thẻ Blue Card của Ngân hàng Bendigo: 1.5 Xét từ góc độ chủ thẻ. Thẻ Ngân hàng được chia thành 4 loại: Thẻ cá nhân, được phát hành cho các cá nhân có nhu cầu và đáp ứng đủ điều kiện phát hành thẻ. Chủ thẻ chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu bằng nguồn tiền của bản thân mình.
Thẻ các nhân có hai loại là thẻ chính và thẻ phụ. + Thẻ chính, do cá nhân đứng tên xin phát hành thẻ cho chính mình sử dụng và cá nhân đó là chủ thẻ chính. + Thẻ phụ, chủ thẻ chính có thể đứng tên xin phát hành thẻ phụ cho người khác sử dụng (chủ thẻ phụ) và chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ các khoản chi tiêu của chủ thẻ phụ. Thẻ cá nhân do công ty ủy quyền sử dụng, được phát hành cho các cá nhân thuộc một tổ chức, công ty đứng tên xin phát hành thẻ và ủy quyền cho cá nhân đó sử dụng thẻ.6 Xét từ góc độ chủ thể phát hành Thẻ Ngân hàng được chia thành 3 loại: Thẻ do Ngân hàng phát hành, thẻ do các tổ chức phi Ngân hàng phát hành và thẻ liên kết.
Thẻ liên kết của Vietcombank và Vietnam Airlines: 1.7 Xét từ góc độ mức độ tín nhiệm của chủ thẻ và giá trị sử dụng của thẻ Thẻ Ngân hàng được chia thành 3 loại: Thẻ thường (Standard card), thẻ vàng (gold card), và thẻ Thượng hạng (Primery Card). Thẻ gold của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam- VIB: Thẻ thượng hạng của Ngân hàng Sacombank: 1. Vai trò và lợi ích của hoạt động dịch vụ thẻ ngân hàng 16 Do hiện nay, đa phần giao dịch thanh toán về hàng hóa và dịch vụ luôn thực hiện thông qua mạng lưới ngân hàng. Đồng thời là chính sách chính phủ khuyến khích hình thức thanh toán không dùng tiền mặt như vậy, dịch vụ thẻ ngân hàng ngày càng có vai trò và lợi ích to lớn đối với nền kinh tế - xã hội, ngân hàng, khách hàng,.
cụ thể như: - Đối với xã hội - kinh tế: Đối với nền kinh tế lợi ích lớn mang lại là tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông hay tỷ trong thanh toán thông qua tiền mặt giảm , điều này càng trở nên quan trọng đối với một quốc gia đang trên đã phát triển như Lào. Việc giảm lưu thông tiền mặt góp phần giúp cho Chính phủ giảm chi phí in tiền mặt, đồng thời làm tăng hiệu quả trong việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương của các nước và làm tăng khả năng kiểm soát lạm phát và góp phần giảm thời gian giao dịch hàng hóa và dịch vụ diễn ra trong mọi lúc mọi nơi và góp phần tăng trưởng kinh tế ổn định và có hiệu quả hơn.