CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Thuật ngữ NHTM dùng để chỉ các tổ chức tài chính kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là huy động tiền gửi và cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và thanh toán, cung ứng các sản phẩm tài chính cơ bản như chứng chỉ tiền gửi (Certificate of Deposit – CDs), tài khoản tiết kiệm cho cá nhân và doanh nghiệp. NHTM tạo ra lợi nhuận thông qua việc phân phối và thu lãi từ các khoản tín dụng như thế chấp, cho vay mua ô tô, cho vay kinh doanh và cho vay cá nhân. Tiền gửi huy động từ khách hàng cung cấp nguồn vốn cho ngân hàng để thực hiện các khoản cho vay này. Berger và Christa H.
Bouwman (2016) (Bank Liquydity Creation and Financial Crises) định nghĩa NHTM là các tổ chức cho vay thương mại và phát hành tiền gửi giao dịch. Bên cạnh đó, NHTM còn tham gia vào các hoạt động ngoại bảng như bảo lãnh tài chính và các giao dịch công cụ phái sinh. Clews (2016) quan niệm NHTM đóng vai trò trung gian giữa người cho vay và người đi vay, bằng cách nhận tiền gửi từ người tiết kiệm rồi từ đó cấp tín dụng cho người có nhu cầu sử dụng vốn. Thông qua vai trò trung gian này, NHTM thực hiện một chức năng kinh tế vô cùng quan trọng đó là giúp cho những người gửi tiết kiệm với nguồn tiền thặng dư giảm thiểu rủi ro trực tiếp đối với các khoản đầu tư của họ.
Ngoài nghiệp vụ truyền thống là nhận tiền gửi và cho vay, NHTM còn tham gia vào hoạt động ngoại hối toàn cầu, hoạt động bảo hiểm, cho thuê tài chính, quản trị rủi ro, các hoạt động liên quan đến thị trường vốn. Tóm lại, NHTM là tổ chức tài chính chuyên cung cấp những khoản vay thương mại, tài khoản vãng lại và phương tiện thanh toán, tham gia đồng tài trợ, tham gia vào thị trường liên ngân hàng với tư cách người cho vay và người đi vay,. NHTM có thể cung cấp cả dịch vụ bán lẻ đối với đối tượng là khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh,. và dịch vụ bán buôn đối với doanh nghiệp lớn.
Tại Việt Nam, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động 9 kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận“ ( Khoản 3, Điều 4, Luật các Tổ chức Tín dụng 2010).2 Các nghiệp vụ cơ bản tại ngân hàng thương mại NHTM thực hiện những nghiệp vụ sau: nghiệp vụ tạo vốn, nghiệp vụ sử dụng vốn và nghiệp vụ trung gian hoa hồng. Nghiệp vụ tạo vốn Nghiệp vụ tạo vốn là hoạt động thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua các hình thức như tiền gửi tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá,. góp phần hình thành nên nguồn vốn kinh doanh cho ngân hàng. Nguồn vốn của NHTM bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn huy động và vốn vay.
VCSH bao gồm vốn điều lệ, các khoản quỹ dự trữ và thặng dư vốn. + Vốn điều lệ là vốn đã được chủ sở hữu thực cấp hoặc vốn đã được các cổ đông, các thành viên góp vốn thực góp và được ghi trong Điều lệ ngân hàng (Khoản 1 Điều 29 Thông tư 40/2011/TT-NHNN). Nguồn vốn này được dùng để trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết phục vụ hoạt động kinh doanh; góp vốn liên doanh; hoặc thực hiện các dịch vụ khác của ngân hàng. + Các khoản quỹ bao gồm quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và quỹ phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, góp phần tăng vốn tự có và phòng ngừa những biến cố có thể xảy đến trong kinh doanh.
Các quỹ này hình thành bằng việc trích lãi ròng hàng năm của ngân hàng và hạch toán vào chi phí. + Thặng dư vốn Vốn huy động bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu và trái phiếu. Vốn vay: ngân hàng có thể vay trên thị trường liên ngân hàng hoặc vay từ NHNN thông qua hình thức tái cấp vốn, tái chiết khấu giấy tờ có giá. Nghiệp vụ sử dụng vốn Đây là nghiệp vụ liên quan đến việc sử dụng nguồn vốn huy động được từ nghiệp vụ tạo vốn, gồm những hoạt động sau: nghiệp vụ ngân quỹ, nghiệp vụ cho vay, nghiệp vụ đầu tư và nghiệp vụ tài sản có khác.
10 Nghiệp vụ ngân quỹ: đây là hoạt động quản lý các luồng thu và chi những tài sản có độ thanh khoản cao tại ngân hàng như tiền mặt, ngoại tệ, chứng từ có giá, chứng khoán ngắn hạn và tiền gửi thanh toán. Tùy vào quy mô, tính chất và phạm vi kinh doanh mà mỗi NHTM có mức tồn quỹ khác nhau. Nghiệp vụ cho vay: đây là hoạt động sinh lời chủ yếu của các TCTD, ngân hàng sẽ cho khách hàng và các chủ thể trong nền kinh tế vay và thu lãi từ những khoản đó. Những khoản vay thương mại là thỏa thuận tài trợ dựa trên nợ giữa doanh nghiệp và tổ chức tài chính (ví dụ như ngân hàng,…), thường được sử dụng để tài trợ cho chi phí hoạt động và chi phí vốn trong trường hợp doanh nghiệp không đáp ứng được khả năng chi trả.
Một số sản phẩm cho vay phổ biến bao gồm: khoản vay có kỳ hạn, thư tín dụng, bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính, cho vay không đảm bảo, vay theo hạn mức thấu chi,… Nghiệp vụ đầu tư: đây là nghiệp vụ ngân hàng sử dụng nguồn vốn của mình để mua chứng khoán, góp vốn mua cổ phần của các TCTD và tổ chức kinh tế nhằm gia tăng lợi nhuận, nâng cao khả năng thanh khoản, đa dạng hóa phương thức sử dụng vốn để phân tán rủi ro. Nghiệp vụ tài sản có khác: đầu tư bất động sản, vàng, ngoại tệ,. Nghiệp vụ trung gian hoa hồng Ngân hàng nhận sự ủy thác của khách hàng, làm trung gian cung ứng các dịch vụ và hưởng lợi nhuận cho các dịch vụ đó, bao gồm: - Chuyển tiền, thanh toán, thu hộ, chi hộ,. - Phát hành thư tín dụng, bảo lãnh,.
- Cho thuê két sắt, giữ hộ tài sản - Tư vấn tài chính và quản trị doanh nghiệp - Thanh lý tài sản khi doanh nghiệp phá sản 1.2 Tổng quan về nghiệp vụ Tài trợ thương mại 1.1 Khái niệm Tài trợ thương mại TTTM quốc tế là khái niệm tương đối rộng, bao hàm cả tín dụng lẫn tài trợ tài chính. Để có thể đưa ra được khái niệm đủ rộng về thuật ngữ trên, Nguyễn Thị Quy cùng các đồng sự (2012) đã tiến hành khảo sát, phân tích trên nhiều khía cạnh, từ đó đúc kết 11 được “TTTM quốc tế là một hiện tượng kinh tế khách quan, gồm tập hợp tổng thể các chính sách, biện pháp và hình thức hỗ trợ tài chính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh TMQT trong một hoặc một số hay tất cả các công đoạn của quy trình tái sản xuất từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường thế giới nhằm mục đích sinh lợi“. Thuật ngữ TTTM hiểu theo nghĩa rộng là bất kỳ thỏa thuận tài chính liên quan đến việc xác nhận các giao dịch thương mại, và mở rộng các khoản tín dụng thương mại là ví dụ điển hình cho định nghĩa này. Còn nếu thu hẹp phạm vi hơn, TTTM được hiểu là hoạt động tài trợ cho các giao dịch thương mại quốc tế của các tổ chức tài chính trung gian.
(Jean-Pierre Chauffour, 2021) “TTTM là dịch vụ chuyên biệt của ngân hàng nhằm hỗ trợ cho các thương nhân trong giao dịch TMQT. Đặc trưng của giao dịch này là ngân hàng cung ứng vốn bằng tiền hoặc bảo lãnh cho các thương nhân giúp họ gia tăng hiệu quả kinh doanh và thực hiện thành công thương vụ. Murphy (2020) định nghĩa TTTM là công cụ và sản phẩm tài chính được doanh nghiệp sử dụng nhằm tạo thuận lợi và phòng ngừa rủi ro trong các giao dịch xuất nhập khẩu. Theo quan điểm của tác giả, TTTM là hoạt động tài trợ của các tổ chức trung gian như là ngân hàng, các định chế tài chính,.
trong các giao dịch thương mại trong nước và quốc tế liên quan đến hàng hóa và dịch vụ giữa người bán và người mua. Dịch vụ TTTM cung cấp những giải pháp để giảm thiểu rủi ro cho cả người mua và người bán.2 Phân loại Tài trợ thương mại 1.1 Căn cứ vào cách tài trợ Tài trợ thương mại trực tiếp: đây là giải pháp tài trợ vốn có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp thông qua các khoản vay ngắn, trung và dài hạn nhằm hỗ trợ cho hoạt động xuất/nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc, trang thiết bị, … các hình thức tài trợ phổ biến như thư tín dụng, nhờ thu, bảo lãnh, bao thanh toán,… Tài trợ thương mại gián tiếp: bao gồm những giải pháp liên quan đến những yếu tố vĩ mô, những biện pháp hỗ trợ tài chính góp phần tạo nên môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển như chính sách thuế, tỷ giá hối đoái, cơ sở pháp 12 lý, lãi suất,. Chính sách miễn và giảm thuế xuất khẩu là một ví dụ cho loại hình tài trợ gián tiếp.2 Căn cứ vào người cung ứng tài trợ Tài trợ thương mại của Chính phủ: là việc Chính phủ tài trợ gián tiếp cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực TMQT thông qua các tổ chức như NHTW, các trung gian tài chính, kho bạc và các TCTC của Chính phủ. Công cụ mà Chính phủ sử dụng để tài trợ bao gồm chính sách chiết khấu, chính sách tỷ giá, chính sách tín dụng, chính sách hỗ trợ tài chính như kích cầu, miễn và giảm thuế, bảo hiểm tín dụng,.
Tài trợ thương mại của NHTW: NHTW tài trợ cho TMQT bằng các hình thức cho vay tái cấp vốn, tái chiết khấu, bảo lãnh nhà nước thông qua hệ thống NHTM, ngân hàng phát triển nhằm tạo nên điều kiện kinh tế tài chính thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động. Tài trợ thương mại của các tổ chức trung gian tài chính: đặc trưng của phương thức này là tài trợ trực tiếp từ người tài trợ đến người nhận tài trợ, không phải qua bất kỳ trung gian nào. Các hình thức tài trợ gồm có tín dụng (Credit), bảo lãnh (Guarantee), chiết khấu (Discount), bao thanh toán (Factoring), thuê mua (Leasing), thư tín dụng (Letter of credit), nhờ thu (Collection),.