Chương 1: Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử trong ngân hàng. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam và Chi nhánh 7. Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh 7. Tác giả muốn nhân cơ hội này gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy, Cô Trường Đại học Kinh tế TPHCM đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tác giả trong suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn TS. Lê Thành Lân đã giúp phát triển đề tài và tận tình chỉ bảo, hướng dẫn thực hiện luận văn này. Tác giả cũng xin cảm ơn các anh chị đồng nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công Thương Chi nhánh 7 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành khóa học này. -1- CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TRONG NGÂN HÀNG.
Khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau, chưa có định nghĩa thống nhất về NHĐT. Chúng ta tìm hiểu về NHĐT thông qua các khái niệm sau: Phương tiện điện tử: Là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự. Giao dịch điện tử: Là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử.
Thương mại điện tử: Thương mại điện tử là việc thực hiện một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại bằng những phương tiện điện tử. Thương mại điện tử vẫn mang bản chất của các hoạt động thương mại truyền thống. Thông qua các phương tiện điện tử, các hoạt động thương mại được thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn, giúp tiết kiệm chi phí và mở rộng không gian kinh doanh. Ngân hàng điện tử (e-banking): NHĐT là việc áp dụng thương mại điện tử trong lĩnh vực ngân hàng.
Dịch vụ: Là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất. Từ các khái niệm trên chúng tôi có thể hiểu Dịch vụ ngân hàng điện tử: Là dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng qua các phương tiện điện tử; khách hàng không cần đến trực tiếp tại các quầy của ngân hàng mà vẫn thực hiện được giao dịch và nắm bắt thông tin tài chính của mình. Quá trình hình thành và phát triển của dịch vụ NHĐT.
Các hình thức NHĐT bắt đầu xuất hiện sau Chiến tranh thế giới thứ hai với việc sử dụng các phần mềm độc quyền và các mạng tư nhân. Nhưng thành công lớn của NHĐT phải đi cùng với Internet. Thương mại điện tử đã phát triển theo cấp số nhân trong 30 năm qua. Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) và Chuyển tiền điện tử -2- (EFT) đã được giới thiệu vào cuối thập niên 1970, để gửi các tài liệu thương mại như đơn đặt hàng hoặc hoá đơn điện tử.
Từ năm 1980 NHĐT có bước đột phá, với việc sử dụng thẻ tín dụng, máy rút tiền tự động (ATM) và dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (phone banking). Lúc bấy giờ hoạt động thương mại dần dần được thực hiện qua hệ thống điện tử. NHĐT thực sự khởi sắc vào đầu những năm 1980 ở Hoa Kỳ và Anh Quốc, với sự xuất hiện của World Wide Web (www). Trong khi các ngân hàng truyền thống cung cấp cho khách hàng của họ tài khoản truy cập trực tuyến, thì một số ngân hàng mới chỉ xây dựng trang Web.
Ngày nay, gần một nửa ngân hàng Mỹ hoạt động trực tuyến. Tại Hoa Kỳ, theo “Banking and finance on the Internet”, của Mary J. Cronin, ngân hàng trực tuyến lần đầu tiên được giới thiệu vào đầu những năm 1980 ở New York. Ở Vương quốc Anh, vào năm 1983, Nottingham Building Society giới thiệu dịch vụ NHĐT tại nhà đầu tiên ở Anh bằng việc liên doanh với Prestel, một dịch vụ thông tin máy tính thuộc British Telecom.
Trong những năm 1990, các ngân hàng nhận ra rằng sự phổ biến của World Wide Web cho họ thêm cơ hội để quảng cáo dịch vụ. Ban đầu, họ sử dụng web như một hình thức quảng cáo mà không có sự tương tác với khách hàng. Các trang web chỉ giới thiệu hình ảnh của các lãnh đạo hoặc các tòa nhà của ngân hàng, cung cấp cho khách hàng bản đồ của các chi nhánh và các địa điểm đặt máy ATM, số điện thoại để gọi cho biết thêm thông tin và danh sách đơn giản của các sản phẩm cung ứng. Wells Fargo là ngân hàng Mỹ đầu tiên thêm các dịch vụ tài khoản vào trang web của mình vào năm 1995.
Các ngân hàng khác nhanh chóng làm theo. Cùng năm đó, Presidential trở thành ngân hàng đầu tiên tại Hoa Kỳ cho mở tài khoản qua Internet. Theo nghiên cứu của Báo cáo Ngân hàng trực tuyến, vào cuối năm 1999, dưới 0,4% hộ gia đình ở Mỹ sử dụng ngân hàng trực tuyến. Vào đầu năm 2004, khoảng 33 triệu hộ gia đình Mỹ (31% thị phần) sử dụng ngân hàng trực tuyến dưới -3- một số hình thức.
Năm 2009, 47% người Mỹ sử dụng ngân hàng trực tuyến. Ở Việt Nam, dịch vụ e-banking đã được khởi động từ năm 1994, nhưng phải đến năm 2002, công nghệ thông tin Việt Nam mới tương thích với loại hình dịch vụ này. Các cấp độ của dịch vụ NHĐT. NHĐT thông tin (Informational E-Banking): Đây là cấp độ cơ bản của NHĐT, không cho phép khách hàng xem hoặc duy trì tài khoản, cũng không cho phép giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng.
Thông tin ngân hàng được cung cấp qua điện thoại hoặc Internet chỉ đơn thuần là thông tin cơ bản về sản phẩm dịch vụ, giống như một cuốn chỉ dẫn nhỏ, nhằm mục đích tiếp thị, và không có kết nối với hệ thống máy chủ của ngân hàng. NHĐT giao tiếp (Communicative E-Banking): NHĐT giao tiếp cho phép trao đổi một số thông tin giữa khách hàng và ngân hàng. Tuy nhiên, điều này chỉ giới hạn ở một số giao dịch cơ bản như vấn tin tài khoản, cập nhật tài khoản mới, gửi đề nghị vay vốn hoặc cầm cố, cập nhật thông tin liên lạc và số dư. NHĐT giao tiếp có thể kết nối với hệ thống máy chủ của ngân hàng.
NHĐT giao dịch (Transactional E-Banking): Là cấp độ phổ biến nhất. NHĐT giao dịch cung cấp tất cả tiện ích của ngân hàng truyền thống, bao gồm toàn quyền kiểm soát tài khoản như gửi tiền, rút tiền, chuyển khoản, cập nhật và thanh toán trực tuyến. Hơn thế nữa, ở cấp độ này, ngân hàng cũng đóng vai trò to lớn, hỗ trợ cho thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp phát triển. Mọi giao dịch như chuyển tiền, mở thư tín dụng cho hợp đồng mua bán giữa các nhà xuất nhập khẩu, mở thư bảo lãnh…đều có thể thực hiện trực tuyến.
Ngày nay, các biện pháp an ninh mạng ngày càng phát triển, đảm bảo dịch vụ NHĐT an toàn, chắc chắn và thuận tiện. Các nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của dịch vụ NHĐT. Sự phát triển của thương mại điện tử. -4- Dịch vụ NHĐT ra đời nhờ sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử.
Xu thế cạnh tranh ngày quyết liệt giữa các doanh nghiệp buộc họ luôn tiếp cận những thành tựu mới của khoa học kĩ thuật nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Việc áp dụng thương mại điện tử trở thành tất yếu để rút ngắn cự ly về địa dư. Sự phát triển của thương mại điện tử tác động đến ngân hàng, đặt ra cho ngân hàng những cơ hội và thách thức mới, bên cạnh nhân tố khác làm tiền đề cho sự ra đời của dịch vụ NHĐT. Môi trường pháp lý.
Môi trường pháp lý là một yếu tố đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong nước, ngân hàng chỉ có thể phát triển dịch vụ NHĐT trên cơ sở pháp lý rõ ràng (biểu hiện cụ thể bằng sự thừa nhận pháp lý về giá trị của giao dịch điện tử, thanh toán điện tử, chứng từ điện tử, chứng nhận chữ ký điện tử…). Môi trường pháp lý ổn định và bao quát tác động tích cực đến sự phát triển của các loại hình dịch vụ mới này khiến mọi đối tượng tham gia đều an tâm. Môi trường pháp lý của quốc gia phải ngày càng hoàn thiện và ổn định làm nền tảng cho các dịch vụ NHĐT.
Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin. NHĐT ra đời theo sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin. Yêu cầu về hạ tầng công nghệ thông tin bao gồm hai mặt: một là tính tiên tiến, hiện đại về công nghệ và thiết bị, hai là tính phổ cập về kinh tế (đủ rẻ tiền để đông đảo người có thể tiếp cận). Do tính chất đặc biệt quan trọng của công nghệ thông tin trong sự phát triển của dịch vụ NHĐT, nên các ngân hàng muốn phát triển dịch vụ này cần đủ nguồn vốn dồi dào đầu tư để không ngừng hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin theo kịp trào lưu thế giới.
Nhân lực nòng cốt. Khi phát triển dịch vụ NHĐT, ngân hàng có thể giảm được đáng kể số lao động do nhiều công đoạn được tự động hoá, lại thêm thiết bị và phần mềm hỗ trợ đắc lực. Chính điều này lại đòi hỏi mỗi nhân viên ngân hàng phải có kỹ năng ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin, sử dụng thành thạo các phương tiện điện tử, -5- đồng thời nắm chắc hơn các nghiệp vụ ngân hàng. Ngoài ra, ngân hàng cần có đội ngũ chuyên gia tin học giỏi.
Nếu kỹ thuật dần dần được tự động hóa, san đều cơ hội thành công, chiến lược kinh doanh từ bộ phận điều hành và sự năng nổ của nhân sự để giành và giữ thị phần sẽ quyết định sự thành công của ngân hàng ngày nay. Tính cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực của phát triển, nhờ đó ngân hàng tự đổi mới để khỏi bị tụt hậu. Cạnh tranh thúc đẩy ngân hàng luôn hoàn thiện để đưa ra sản phẩm dịch vụ hoàn hảo hơn, có nhiều tiện ích hơn để thu hút được nhiều khách hàng.
Ngày nay, các ngân hàng trên thế giới và tại Việt Nam đều nhận thức được tính ưu việt của dịch vụ NHĐT so với dịch vụ ngân hàng truyền thống nên đã, đang và sẽ phát triển loại dịch vụ NHĐT để đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng. Dịch vụ NHĐT ra đời mang lại lợi ích to lớn cho ngân hàng.