lời mở đầu, kết luận và phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Chƣơng Dƣơng. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử cho Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Chƣơng Dƣơng. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan dịch vụ ngân hàng điện tử 1.1 Khái niệm ngân hàng điện tử Nhân loại đang sống trong kỷ nguyên 4.0, sự phát triển công nghệ thông tin đã gây ra sức ảnh hƣởng vô cùng lớn đến hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng đã đến gần hơn với ngƣời tiêu dùng nhờ mạng lƣới internet hay viễn thông, việc trao đổi thông tin giữa KH và ngân hàng đƣợc giản lƣợc chỉ qua một cái click chuột hay bàn phím điện thoại. Máy tính và internet đã mở ra cho chúng ta hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt, nhanh gọn, chính xác và nhất là nó có tính kết nối rộng khắp trên toàn thế giới. Thuật ngữ “Ngân hàng điện tử” có lẽ không còn xa lạ với chúng ta, hiện nay có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau. Theo “Ngân hàng điện tử và các phƣơng tiện giao dịch thanh toán điện tử”- tạp chí tin học ngân hàng số 4/2003 có đƣa ra khái niệm nhƣ sau: “Ngân hàng điện tử là khả năng của một KH có thể truy cập từ xa vào một NH nhằm thu thập thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lƣu ký tại ngân hàng đó và đăng ký các dịch vụ mới”.
Nếu coi ngân hàng cũng nhƣ một thành phần của nền kinh tế điện tử, một khái niệm tổng quát nhất về NHĐT diễn đạt nhƣ sau: “Ngân hàng điện tử là ngân hàng mà tất cả các giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng (cá nhân và tổ chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng.” Ngân hàng điện tử có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: các dịch vụ ngân hàng đƣợc cung cấp qua các phƣơng tiện kỹ thuật điện tử, KH không cần đến NH 10 mà vẫn có thể thực hiện đƣợc các giao dịch cũng nhƣ nắm bắt đƣợc những thông tin tài chính của mình. Hay nói một cách ngắn gọn hơn thì “Ngân hàng điện tử là hình thức mà KH thực hiện các giao dịch tài chính ngân hàng thông qua phương tiện điện tử và công nghệ mạng”.2 Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Theo Hoàng Nguyên Khai (2013) dịch vụ ngân hàng điện tử hiểu theo nghĩa trực quan đó là một loại dịch vụ ngân hàng cho phép KH thực hiện các giao dịch tài chính mà không cần phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng hoặc bên trung gian nào khác. Hiểu theo nghĩa rộng hơn là một công cụ tiện ích cung ứng các sản phẩm dịch vụ truyền thống kết hợp với các sản phẩm bán lẻ mới thông qua các phƣơng tiện điện tử và các kênh truyền thông tƣơng tác khác. Theo quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN ngày 31/07/2006 của ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, hoạt động NHĐT là hoạt động ngân hàng đƣợc thực hiện qua các kênh phân phối điện tử.
Kênh phân phối điện tử là hệ thống các phƣơng tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch đƣợc các tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với KH và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ cho KH. Theo khoản 6 và khoản 10 điều 4 của Luật giao dịch điện tử Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005, giao dịch điện tử là giao dịch đƣợc thực hiện bằng phƣơng tiện điện tử. Trong đó phƣơng tiện điện tử là các phƣơng tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học điện tử hoặc công nghệ tƣơng ứng. Mạng viễn thông bao gồm mạng internet, mạng điện thoại, mạng vô tuyến, mạng extranet.
Ngân hàng Nhà nƣớc ban hành nhiều văn bản quy phạm hƣớng dẫn các tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán trong việc triển khai các dịch vụ ngân hàng điện tử đảm bảo an toàn bảo mật. Trong thông tƣ số 35/2016/TT- 11 NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên Internet. Dịch vụ ngân hàng trên Internet (Internet Banking) là dịch vụ ngân hàng điện tử và dịch vụ trung gian thanh toán đƣợc các đơn vị cung cấp thông qua mạng Internet. Mọi giao dịch tài chính phải đƣợc xác thực tối thiểu hai yếu tố nhằm bảo mật thông tin khách hàng.
Đảm bảo tính sẵn sàng của hệ thống Internet Banking để cung cấp dịch vụ một cách liên tục. Thực hiện kiểm tra, đánh giá an ninh, bảo mật hệ thống Internet Banking để xác định rủi ro, có biện pháp phòng ngừa, xử lý rủi ro trong cung cấp dịch vụ. Dịch vụ NHĐT là dịch vụ ngân hàng đƣợc cung cấp thông qua phƣơng thức điện tử. Trong đó, phƣơng thức điện tử dùng để chỉ toàn bộ quy trình và hệ thống phƣơng tiện giao dịch điện tử nhƣ máy tính cá nhân, ATM, PDA, điện thoại… hệ thống quản lý và xử lý dữ liệu giao dịch tại các ngân hàng; hệ thống giao tiếp và xử lý giao dịch liên ngân hàng.3 Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử 1.1 Thẻ ngân hàng: Thẻ ngân hàng là phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phƣơng thức mua bán hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.
Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dƣ tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng đƣợc cấp. Thẻ ngân hàng còn đƣợc dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM. Đối với thẻ ghi nợ: ngƣời sử dụng có thể dùng thẻ để rút tiền từ tài khoản thanh toán qua các máy ATM, mua hàng trên mạng hoặc thanh toán tại các máy POS. Đối với thẻ tín dụng: ngƣời sử dụng phải cầm cố sổ tiết kiệm hoặc 12 chứng minh thu nhập hàng tháng để ngân hàng cho vay tín chấp.
Ngƣời sử dụng sẽ sử dụng tiền trong thẻ trƣớc và đến hạn sẽ thanh toán gốc và lãi cho ngân hàng. Loại thẻ này đƣợc khuyến khích dùng để thanh toán tại các máy POS, hạn chế rút tiền mặt vì phí rút tiền mặt khá cao. Đối với thẻ thanh toán quốc tế: ngƣời sử dụng sẽ nạp tiền vào thẻ và dùng để thanh toán mua hàng ở các trang web nƣớc ngoài hoặc khi đi du lịch nƣớc ngoài, ngƣời sử dụng có thể thanh toán mua hàng hoặc rút tiền tại nƣớc đó. Đối với thẻ liên kết: ngân hàng sẽ liên kết với các đối tác và cho ra đời thẻ liên kết.
Ngƣời sử dụng khi dùng thẻ sẽ đƣợc ƣu đãi từ phía đối tác của ngân hàng.2 Dịch vụ ngân hàng điện tử qua hệ thống máy giao dịch tự động (ATM): ATM hay máy giao dịch tự động là thiết bị viễn thông đƣợc máy tính hóa của các ngân hàng nhằm cung cấp một phƣơng thức giao dịch ngân hàng an toàn trong môi trƣờng công cộng mà không cần đến giao dịch viên. Thực hiện việc nhận dạng khách hàng thông qua thẻ ATM (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng) hay các thiết bị tƣơng thích và giúp khách hàng kiểm tra tài khoản, rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ. Ngoài ra, hiện các Ngân hàng triển khai thêm hệ thống máy R- ATM và dịch vụ nộp tiền mặt tại máy R-ATM. Với dòng máy này, ngoài việc cho phép khách hàng xử lý các giao dịch tài chính tƣơng tự nhƣ máy ATM thông thƣờng, khách hàng có thể nộp tiền mặt 24/7 trực tiếp tại máy R-ATM thay vì phải đến quầy giao dịch.
Điều này sẽ giúp khách hàng tiết kiệm thời gian, không phải xếp hàng chờ đợi và có thể giao dịch 24/24h, 7 ngày 1 tuần mà không còn phải phụ thuộc vào giờ giao dịch của ngân hàng.3 Dịch vụ ngân hàng điện tử qua hệ thống chấp nhận thẻ (POS) POS là phƣơng thức cung cấp dịch vụ ngân hàng qua hệ thống máy POS tại các điểm bán hàng. Máy POS dùng để cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử là hệ thống điện tử dùng tại các điểm bán hàng có khả năng đọc thẻ và đƣợc nối tới một trung tâm dữ liệu tài khoản để thực hiện chức năng thanh toán bằng thẻ. Chức năng chính của POS là cung cấp dịch vụ thanh toán qua thẻ cho việc mua bán hàng hóa dịch vụ. Tiện ích mà POS mang lại cho chủ thẻ là không phải mang tiền mặt mỗi khi đi mua sắm, tránh việc trả lại tiền không đủ tiêu chuẩn lƣu thông lƣu hành; các chƣơng trình khuyến mãi giảm giá do các ngân hàng và đơn vị chấp nhận thẻ tổ chức.4 Phone banking: Phone banking là hệ thống trả lời tự động 24/24 của ngân hàng, khách hàng sẽ nhận đƣợc thông tin về tài khoản thông qua điện thoại.
Thông qua Phone banking một hệ đã đƣợc lập trình sẵn, khách hàng sẽ gọi đến tổng đài của ngân hàng để nhận đƣợc các thông tin nhƣ: số dƣ tài khoản, thông tin về lãi suất, tỷ giá hối đoái, thông tin chứng khoán.5 Dịch vụ ngân hàng điện tử qua điện thoại di động (Mobile Banking): Mobile Banking là loại dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên công nghệ viễn thông không dây của mạng điện thoại di động bao gồm việc thực hiện dịch vụ ngân hàng bằng cách kết nối điện thoại di động với trung gian tƣơng tự nhƣ Home Banking) và kết nối internet trên điện thoại di động sử dụng giao thức ứng dụng không dây WAP (Wireless Application Protocol). Một số tiện ích mà dịch vụ Mobile Banking cung ứng cho KH nhƣ: cung cấp các thông tin liên quan đến hoạt động tài khoản cá nhân KH, thực hiện giao dịch thanh toán hóa đơn (điện, nƣớc, vé máy bay, học phí.), vay thấu chi, kinh doanh chứng khoán, quản lý danh mục đầu tƣ tài chính của KH,. Không chỉ thực hiện chức năng truy cập thông tin hay thực hiện các 14 giao dịch thông thƣờng, KH còn có thể thực hiện chức năng thanh toán.