Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong hệ thống Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng – Chi nhánh Ngô Quyền Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng – Chi nhánh Ngô Quyền 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng bán lẻ ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1. Khái niệm Trong những năm gần đây, các dịch vụ tài chính ngân hàng đã thay đổi rất nhiều so với sự bùng nổ của các ngân hàng đã làm thay đổi cách tiếp cận về các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại.
Thời kỳ đầu các ngân hàng cung cấp các dịch vụ phục vụ cho đối tượng chính như: các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp, các khách hàng cá nhân giàu có. Địa điểm để tổ chức các giao dịch với nhau tại các ngân hàng, trong khung giờ xác định, bị bó hẹp. Kinh tế xã hội đã có sự phát triển đáng kể mang đến một đời sống đầy đủ và sung túc hơn cho người dân không chỉ trên phương diện thu nhập mà còn cả về trình độ dân trí cao hơn, khả năng tiếp cận mở rộng hơn tới các dịch vụ tiêu dùng của nền kinh tế, thói quen tiêu dùng tăng… Xu hướng này đã mang tới cho thị trường tài chính cơ hội khai thác các nguồn lực trong dân cũng như khả năng cung cấp các dịch vụ tài chính cho dân cư. Vì vậy, dịch vụ NHBL ngày càng được quan tâm, đầu tư và phát triển.
Thuật ngữ “ngân hàng bán lẻ” có từ gốc tiếng Anh là Retail banking. Theo nghĩa đen trong cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ nghĩa là cung cấp các sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng với số lượng nhỏ. Nó ngược với bán buôn là việc cung cấp cho người trung gian với số lượng lớn. Ngoài ra cũng đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
Theo tổ chức thương mại thế giới (WTO): dịch vụ ngân hàng bán lẻ là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng nơi mà các khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại những chi nhánh (phòng giao dịch) của các NH để thực hiện các dịch vụ như: tiền gửi tiết kiệm và kiểm tra tài khoản, dịch vụ tiền vay, dịch vụ thẻ, dịch vụ giá trị gia tăng và một số dịch vụ khác đi kèm… 6 Dịch vụ ngân hàng từ khi xuất hiện đã mang theo nhiều khái niệm phức tạp khiến việc tìm hiểu về dịch vụ ngân hàng là vô cùng quan trọng nếu như người dùng muốn tham gia giao dịch tiền mặt cùng với các định chế tài chính như ngân hàng, quỹ tín dụng,…Có hai quan điểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng. Theo nghĩa rộng, dịch vụ ngân hàng bao gồm toàn bộ các hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối của ngân hàng. Quan điểm này phù hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hoa kì cũng như cách phân loại của nhiều nước phát triển trên thế giới. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng của một trung gian tài chính (huy động tiền vốn, cho vay).
Như vậy, về cơ bản dịch vụ ngân hàng là dịch vụ tài chính do ngân hàng thương mại cung cấp Các chuyên gia kinh tế của học viện nghiên cứu Châu Á – AIT cho rằng, NHBL là cung cấp trực tiếp sản phẩm, DVNH tới từng cá nhân riêng lẻ, các DNVVN thông qua mạng lưới chi nhánh truyền thống hay thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và CNTT. Một số chuyên gia khác nhìn nhận dịch vụ NHBL trên phương diện nhà cung cấp dịch vụ với khâu phân phối giữ vai trò quyết định. “Bán lẻ là hoạt động của phân phối mà trong đó triển khai các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm, phát hiện, triển khai các kênh phân phối hiện đại mà nổi bật là kinh doanh qua mạng” (JeanPaulVontron–NgânhàngForties). Từ những khái niệm trên có thể đi đến kết luận về dịch vụ NHBL như sau: Dịch vụ NHBL là DVNH cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính tới từng cá nhân riêng lẻ, các DNVVN thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với DVNH thông qua phương tiện thông tin, điện tử viễn thông.
Tại Việt Nam, có sự phân nhóm đối tượng khách hàng của dịch vụ NHBL khác nhau: Ngân hàng gộp DNVVN vào NHBL: Sacombank, Techcombank, ACB Ngân hàng tách DNVVN riêng khỏi NHBL như MB, Hàng Hải … 7 Trên góc độ nghiên cứu và thực tế làm việc, bài luận văn nghiên cứu dịch vụ NHBL đối với đối tượng khách hàng bán lẻ bao gồm: Khách hàng là cá nhân, hộ kinh doanh, DNVVN có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ bán lẻ của VPBank. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Thứ nhất, đối tượng khách hàng của NHBL đa dang và nhiều: các cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thứ hai, Chi phí giao dịch cao: Dịch vụ NHBL bao gồm rất nhiều món giao dịch với giá trị của m i giao dịch không lớn nên chi phí bình quân trên m i giao dịch khá cao. Dịch vụ NHBL phục vụ cho các nhu cầu giao dịch và thanh toán thường xuyên của người dân, do đó lượng giao dịch nhiều, nhưng chi phí để phục vụ m i giao dịch của khách hàng bán lẻ cũng tương đương với m i giao dịch của khách hàng bán buôn, dẫn đến chi phí bình quân của m i giao dịch khá cao.
Tuy vậy, số lượng giao dịch lớn thì lợi nhuận đạt được của bộ phận NHBL là khá lớn, đáp ứng được nhu cầu của phần đông khách hàng. Thứ ba, dịch vụ NHBL đòi hỏi phải xây dựng đa dạng các kênh phân phối để cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng trên phạm vi rộng. Thứ tư, xác suất (nguy cơ) rủi ro cao, nhưng mức ảnh hưởng không lớn. (Do khả năng quản lý tài chính, thông tin tín dụng chất lượng không cao nên xác suất xảy ra rủi ro cao, song do giá trị tín dụng không lớn nên tổn thất do rủi ro xảy ra không cao) Thứ năm, dịch vụ đơn giản, dễ thực hiện: Mục tiêu của dịch vụ NHBL là khách hành cá nhân nên các dịch vụ thường tập trung vào dịch vụ gửi tiền, thanh toán, vay vốn và dịch vụ thẻ.
Thứ sáu, dịch vụ NHBL luôn cải tiến với nhu cầu đa dạng và ngày càng tăng của khách hàng. Đối tượng khách hàng chủ yếu của dịch vụ NHBL là các cá nhân khác nhau về thu nhập, trình độ hiểu biết, tính cách, sở thích, độ tuổi, nghề nghiệp nên nhu cầu của khách hàng rất đa dạng. Từ đó, dịch vụ NHBL cũng đa dạng và thay đổi liên tục để thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Thứ bảy, dịch vụ NHBL phát triển đòi hỏi hạ tầng kỹ thuật công nghệ hiện đại và một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp nhằm mở rộng, nâng cao chất lượng sản phẩm và đưa sản phẩm đến từng đối tượng khách hàng.
Công nghệ thông tin là 8 tiền đề quan trọng để lưu giữ và xử lí cơ sở dữ liệu tập trung, cho phép các giao dịch trực tuyến được thực hiện. Công nghệ thông tin h trợ triển khai các sản phẩm dịch vụ NHBL tiên tiến như chuyển tiền tự động, huy động vốn và cho vay dân cư với nhiều hình thức khác nhau. Thứ tám, tạo nguồn thu khá ổn định cho NHTM, đặc biệt đối với dịch vụ tín dụng bán lẻ (lãi suất cho vay tương đối cao) 1. Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ cơ bản của Ngân hàng thương mại 1.
Dịch vụ Huy động vốn Đây là hoạt động cơ bản của NHTM. Ngân hàng cung cấp dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả cả gốc và cho khách hàng đúng hạn. Với hoạt động huy động vốn, các NHTM được phép sử dụng tất cả các công cụ và phương pháp khác nhau để huy động mọi nguồn tiền nhàn r i trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn, sẵn sang đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế. Trên bảng cân đối kế toán của NHTM, bên tài sản nợ có 3 mục chính gồm: vốn huy động, vốn vay và vốn tự có.
Trong đó thì nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất, có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng. Nó cũng là một tiêu chí để đánh giá uy tín, độ tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng. Dịch vụ nhận tiền gửi của NHTM được thực hiện dưới những hình thức sau: a. Tiền gửi Đây là nghiệp vụ phản ánh khả năng thu hút vốn nhắm tạo cho ngân hàng nguồn vốn vững chắc trong kinh doanh.
Các hình thức của nghiệp vụ này rất đa dạng để thích hợp với từng loại khách hàng. Hiện nay, tại các nước có các hình thức sau: Tiền gửi không kỳ hạn, Tiền gửi có kỳ hạn, Tiền gửi tiết kiệm. Phát hành chứng từ có giá để huy động vốn. o Phát hành kỳ phiếu: Huy động các khoản vốn có thời hạn <12 tháng.
o Phát hành trái phiếu: Huy động các khoản vốn có thời hạn > 12 tháng. o Phát hành chứng chỉ tiền gửi: Huy động các khoản vốn ngắn hạn nhưng có mệnh giá rất lớn. Đi vay 9 Vốn đi vay là quan hệ vay vốn giữa ngân hàng thương mại với các tổ chức tín dụng khác và với Ngân hàng Trung ương dưới hình thức tái chiết khấu hay vay có bảo đảm. Dịch vụ tín dụng Là nghiệp vụ kinh doanh truyền thống của ngân hàng thương mại.
Trong đó, ngân hàng cung cấp cho khách hàng vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích nhất định và có cam kết hoàn trả gốc, lãi vào thời gian nhất định. Cho vay trực tiếp Theo tính chất: Cho vay sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế; cho vay tiêu dùng đối với cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức đoàn thể xã hội. Theo thời hạn: Cho vay ngắn hạn với thời hạn từ một năm trở xuống; Cho vay trung hạn với thời hạn từ trên một năm đến 5 năm; Cho vay dài hạn với thời hạn trên 5 năm.