CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO HOẠT ĐỘNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro hoạt động Trong hoạt động kinh doanh, các ngân hàng luôn phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro hoạt động…Trong đó, đặc biệt phải kể đến rủi ro hoạt động còn được gọi là rủi ro tác nghiệp hay rủi ro vận hành, là loại rủi ro lâu đời nhất, phát sinh cùng với sự ra đời của hoạt động ngân hàng và có mối quan hệ chặt chẽ với các loại rủi ro khác. RRHĐ luôn hiện hữu hầu như trong tất cả các giao dịch và hoạt động của các ngân hàng thương mại nhưng lại khó lường nhất.
Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng sau một quá trình nghiên cứu và quan sát đã đưa ra một định nghĩa đầy đủ về rủi ro hoạt động và được chấp nhận rộng rãi. Theo Basel II [17], rủi ro hoạt động (Operational Risk) được định nghĩa là nguy cơ tổn thất do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc không hoạt động, hay do các sự kiện bên ngoài. Khái niệm rủi ro hoạt động bao gồm cả rủi ro luật pháp, nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín doanh nghiệp. Theo BIDV (2015) [7], rủi ro hoạt động là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai sót; do con người; do các hệ thống hoặc do các yếu tố bên ngoài.
Rủi ro hoạt động không bao gồm rủi ro danh tiếng và rủi ro chiến lược. Sự cố rủi ro hoạt động là những sự kiện xảy ra trong quá trình hoạt động do yếu tố con người, sự yếu kém trong hệ thống công nghệ thông tin, sự sơ hở, yếu kém trong các quy định nội bộ hoặc từ những yếu tố bên ngoài làm 5 ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của ngân hàng. Khẩu vị rủi ro hoạt động là mức độ rủi ro hoạt động mà ngân hàng chấp nhận trong quá trình hoạt động kinh doanh nhằm đạt các mục tiêu đã đặt ra trong một giai đoạn nhất định. Rủi ro pháp lý là tổn thất phát sinh trong quá trình hoạt động do quy định của pháp luật, phán quyết bất lợi của Tòa án, hợp đồng bị tuyên vô hiệu, chìm sâu trong vòng lao lý, các khoản tiền phạt do không chấp hành quy chế như không duy trì đủ dự trữ bắt buộc… Rủi ro danh tiếng là rủi ro do khách hàng, đối tác, cổ đông, nhà đầu tư hoặc công chúng có phản ứng tiêu cực về mức độ tín nhiệm của ngân hàng.
Rủi ro chiến lược là rủi ro do ngân hàng không ứng phó kịp thời trước các thay đổi môi trường kinh doanh, do các chiến lược, chính sách kinh doanh sai lầm, do thực hiện không đúng các chiến lược chính sách kinh doanh của ngân hàng ban hành. Phân loại rủi ro hoạt động và sự kiện rủi ro hoạt động Theo BIDV (2015) [7], Basel II [17], rủi ro hoạt động được phân loại theo 04 loại nguyên nhân chính: Con người, quy trình nội bộ, hệ thống công nghệ thông tin, các sự kiện bên ngoài. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro hoạt động 6 Khi rủi ro hoạt động xảy ra nghĩa là xuất hiện sự kiện rủi ro hoạt động hay sự cố rủi ro hoạt động. Theo BIDV (2015) [7], sự kiện rủi ro hoạt động được phân loại theo 07 nhóm chính, cụ thể như sau: Một là, rủi ro liên quan đến mô hình tổ chức, cán bộ và an toàn nơi làm việc Về mô hình tổ chức - Chính sách, sắp xếp, bố trí, luân chuyển cán bộ chưa hợp lý.
- Thực hiện các chế độ, nghĩa vụ với người lao động chưa đúng với quy định, thoả ước lao động. - Mô hình tổ chức không phù hợp, yếu kém trong quản lý nguồn nhân lực. Về bản thân cán bộ - Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm của cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu công việc. - Chưa chấp hành đúng nội quy lao động hoặc vi phạm kỷ luật.
- Tư cách đạo đức chưa tốt, chưa có tinh thần trách nhiệm với công việc. - Giao tiếp, ứng xử với khách hàng, đồng nghiệp chưa đúng mực. Về an toàn nơi làm việc Nơi làm việc chưa đảm bảo an toàn dẫn đến phát sinh các khoản bồi thường tai nạn lao động. Hai là, rủi ro liên quan đến cơ chế, chính sách, quy định - Thiếu quy trình, quy định hoặc chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ, chưa cụ thể, có kẽ hở tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng, gây tổn thất cho ngân hàng.
- Văn bản, quy định có sự chồng chéo, khó thực hiện. - Văn bản, quy định có nội dung chưa đúng, lỗi thời, không phù hợp với cơ chế chính sách; quy định của pháp luật hiện hành. - Sự thay đổi về các văn bản, quy định của Nhà nước, Chính phủ. Ba là, rủi ro liên quan đến gian lận nội bộ 7 - Cán bộ ngân hàng tự thực hiện các hành vi gian lận.
- Cán bộ ngân hàng cấu kết với bên ngoài để thực hiện các hoạt động phạm pháp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, huỷ hoại uy tín của ngân hàng… Bốn là, rủi ro liên quan đến gian lận bên ngoài Bao gồm rủi ro phát sinh do các hành động và sự kiện bên ngoài nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng. - Tác động bên ngoài có thể đến từ các hành vi lừa đảo, trộm cắp, cố ý phá hoại của các đối tượng bên ngoài ngân hàng hoặc do khách hàng thực hiện các hành vi gian lận, lừa đảo. - Thực hiện giao dịch với các cá nhân, tổ chức bị cấm vận hoặc có tên trong danh sách đen, bị nghi ngờ, tội phạm. Năm là, rủi ro liên quan đến quá trình xử lý công việc - Trong quá trình làm việc, cán bộ không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ quy trình nghiệp vụ, văn bản hướng dẫn hoặc làm việc cẩu thả dẫn đến sai lỗi trong tác nghiệp.
- Thực hiện nghiệp vụ không được phép, không được ủy quyền, vượt thẩm quyền. Có hành vi gian lận, lừa đảo, cố ý làm trái, gây hậu quả lớn cho ngân hàng như thực hiện các giao dịch khống, bị cấm, giả mạo giấy tờ, giao dịch trái phép, trục lợi cá nhân… - Thực hiện không đúng, không đầy đủ chức trách nhiệm vụ được giao, không bảo vệ lợi ích chính đáng tối đa cho Ngân hàng trong điều kiện có thể thực hiện được. Sáu là, rủi ro liên quan đến hệ thống công nghệ thông tin - Lỗi phần cứng - Lỗi phần mềm - Lỗi đường truyền - Phần mềm không có tính năng bảo mật hoặc tính bảo mật chưa cao 8 - Phần mềm không đầy đủ chức năng cần thiết - Phần mềm không đáp ứng đủ các yêu cầu nghiệp vụ… Bảy là, rủi ro liên quan đến thiệt hại tài sản vật chất Rủi ro liên quan đến thiệt hại tài sản thường do: - Phá hoại, khủng bố - Thiên tai, động đất, bão lũ, hoả hoạn. Theo Basel II [17], sự kiện rủi ro hoạt động được phân chia thành 07 nhóm như sau: Một là, sự kiện gian lận nội bộ: Là những thiệt hại do những hành động cố ý lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, cố ý vi phạm các quy định/chính sách của ngân hàng nhằm mục đích trục lợi.
Hai là, sự kiện gian lận bên ngoài: Là những thiệt hại do những hành vi cố ý lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, cố ý vi phạm các chính sách của Ngân hàng được gây ra bởi các đối tượng bên ngoài (không có sự hỗ trợ/cấu kết của nội bộ Ngân hàng). Ba là, sự kiện về chính sách an toàn môi trường: Là những thiệt hại do những hành vi vi phạm những chính sách về lao động và an toàn của người lao động tại Ngân hàng. Bốn là, sự kiện về khách hàng, sản phẩm và thực tiễn môi trường kinh doanh: Là những thiệt hại do những hành động vô ý/sơ xuất của cán bộ Ngân hàng trong quá trình thực hiện các hoạt động trong thẩm quyền với khách hàng hoặc do bản chất thiết kế của sản phẩm/dịch vụ bị sai sót, không phù hợp. Năm là, sự kiện về hư hại tài sản cố định, công cụ dụng cụ: Là những thiệt hại do thảm họa thiên nhiên hoặc do các sự kiện bên ngoài như khủng bố, hành động phá hoại hoặc cháy nổ.
Sáu là, sự kiện liên quan đến gián đoạn hoạt động và lỗi công nghệ thông tin: Là những thiệt hại do lỗi công nghệ thông tin, gián đoạn hoạt động 9 kinh doanh như lỗi phần cứng, phần mềm, sự cố truyền tải thông tin hoặc các chức năng bị gián đoạn trong quá trình hoạt động. Bảy là, sự kiện về quản lý hoạt động và thực hiện giao dịch: Là những thiệt hại do quá trình quản lý và thực hiện giao dịch trong quan hệ giao dịch với các đối tác và các nhà cung cấp. Tác động của rủi ro hoạt động đến hoạt động của các ngân hàng thương mại Rủi ro hoạt động không chỉ gây thiệt hại cho ngân hàng về mặt tài chính mà còn gây ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, thương hiệu của ngân hàng. Các nhà nghiên cứu ở một số nước tiên tiến đã tính toán rủi ro hoạt động trong các ngân hàng thông thường làm mất khoảng 10% lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh.
Một số hậu quả mà Ngân hàng gặp phải do rủi ro hoạt động gây ra: - Đối với hoạt động thanh toán: Hậu quả mà ngân hàng phải gánh chịu có thể là không thanh toán được theo yêu cầu của khách hàng hoặc thanh toán nhầm đối tượng thụ hưởng. - Đối với hoạt động tài chính: Hậu quả của rủi ro hoạt động có thể là việc định giá tài sản sai, các báo cáo lãi lỗ không hoàn chỉnh, các khoản mục kế toán không được đối chiếu. - Đối với hoạt động Marketting và bán hàng: Rủi ro hoạt động có thể đưa ngân hàng rơi vào tình trạng khi đưa các sản phẩm mới mà không đảm bảo cơ sở hạ tầng phù hợp do không áp dụng đúng các thủ tục phê duyệt sản phẩm mới. - Đối với lĩnh vực công nghệ thông tin: Hậu quả mà ngân hàng phải gánh chịu có thể là tình trạng mất kiểm soát hệ thống hoặc hệ thống cơ sở dữ liệu ngừng hoạt động.
- Đối với hoạt động quản lý nhân sự: Hậu quả của rủi ro hoạt động có thể là hành vi vi phạm pháp luật trong vấn đề kết thúc hợp đồng lao động.