Chương 1: Những lý luận cơ bản về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng thương mại cổ phần; Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Chi nhánh Tây Hồ; Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Tây Hồ. 6 Ch iron g 1 N H Ữ N G L Ý L U Ậ• N c o B Ả N V Ề P H Á T T R I Ể N D Ị•C H v ụ• N G Â N H ÀNG BÁN LẺ TẠI NG ÂN H ÀNG TM CP L I K h á i q u á t v ề d ị c h v ụ n g â n h à n g b á n lẻ c ủ a n g â n h à n g T M C P 1.1 K h á i niệm d ịch vụ ngân h àng và dịch vụ ngân h àn g bán lẻ 1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu. giải quyết các môi quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với nguời cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sỏ' hữu. Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vuợt quá phạm vi của sản phẩm vật chất.
Theo Luật giá năm 2017: “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật” [1] Trong kinh tế học, dịch vụ đuợc hiểu là những thứ tuơng tự nhu hàng hóa nhung là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm năm trong khoảng giũa sản phâm hàng hóa, dịch vụ 1 heo 1 ừ điển Tiếng Việt: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và đuợc trả công” [21] Cung ứng dịch vụ là hoạt động thuơng mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. (Luật Thuơng mại 2017) [2], Khái niệm về dịch vụ nói chung là hết sức phức tạp, khái niệm về dịch vụ ngân hàng lại càng phức tạp hon vì tính tổng họp, đa dạng và nhạy cảm của hoạt động kinh doanh ngân hàng. bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính được cung cấp bởi nhà cung cấp dịch vụ tài chính được gọi là dịch vụ tài chính.
Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiếm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. Theo dó, dịch vụ ngân hàng được đặt trong nội hàm của dịch vụ tài chính. - Tại Việt Nam, chưa có khái niệm rõ ràng về dịch vụ ngân hàng. Có quan diêm cho răng dịch vụ ngân hàng không bao hàm kinh doanh tiên tệ và các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng một trung gian tài chính (hoạt động cho vay.
huy động tiền gửi), mà chỉ những hoạt động không thuộc nội dung trên mới là dịch vụ ngân hàng (dịch vụ thanh toán,.); nhưng cũng có quan điểm khác cho rằng tât cả các hoạt động ngân hàng phục vụ cho các cá nhân và tô chức đều là dịch vụ ngân hàng. Ket hợp với thực tế cung cấp các dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam, có thể hiêu vê dịch vụ ngân hàng như sau. Dịch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hôi,. của hệ thống Ngân hàng cung ứng cho nền kinh tể.2 Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Thuật ngữ “dịch vụ ngân hàng bán lẻ” xuất phát từ từ gốc “retail banking” trong tiếng Anh.
Mặc dù là khá mới mẻ, khái niệm này không bao hàm về một lĩnh vực mới của hoạt động ngân hàng. Dù ngân hàng có xác định hay không xác định về kể hoạch kinh doanh thì các dịch vụ ngân hàng bán lẻ (NHBL) vẫn luôn tồn tại. Vậy “dịch vụ ngân hàng bán lẻ” được hiểu như thế nào? Có rât nhiêu cách tiếp cận khác nhau về hoạt động bán lẻ. Theo nghĩa đen trong việc cung cấp các hàng hoá, dịch vụ thông thường thì bán lẻ được hiểu là bán trực tiêp cho người tiêu dùng với số lượng ít, nhỏ lẻ.
Nó khác với bán buôn là bán cho người trung gian, cho nhà phân phối của hàng hoá đó. Tuy nhiên, do đặc thù của lĩnh vực hoạt động tiền tệ, thuật ngữ bán lẻ trong dịch vụ ngân hàng có thể hiêu khác đi một chút với một số khái niệm sau: 8 1heo từ điên Ngân hàng và Tin học —Nhà xuất bản Chính trị quốc gia — 1996 thì Retail banking - hoạt động ngân hàng bán lẻ/nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ 'dịch vụ ngân hàng bán lẻ - là dịch vụ ngân hàng dành cho quảng đại quần chúng, thường là một nhóm các dịch vụ tài chính gồm cho vay trả dần, cho vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân.[20] Theo Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại - Nhà xuất bản thống kê - 2007 thì thuật ngữ ‘ngân hàng bán lẻ" được đề cập tới như một loại hình ngân hàng chia theo tính chât hoạt động mà loại hình đó “chủ yêu cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân với các khoản tín dụng nhỏ”.[6] Như vậy, từ các cách hiểu trên, có thể đi đến một khái niệm tương đối khái quát về dịch vụ NHBT là: Dịch vụ NHBL là việc cung ứng dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc là việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông.2 Đ ặ c đ iế m d ịc h v ụ n g â n h à n g b á n lẻ Đôi tượng phục vụ phong phú: có thê là các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do có đối tượng phục vụ rất lớn, gồm nhiều thành phần trong xã hội, ngân hàng phải tìm hiểu khách hàng là ai, cần gì để đưa ra những sản phẩm và chính sách chăm sóc khách hàng phù hợp nhất. Sô lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ: rât đa dạng nhưng giá trị của từng khoản giao dịch không cao.
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ rất đa dạng về chủng loại, phong phủ về hình thức. Nhưng do khách hàng của ngân hàng bán lẻ là các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ nên giá trị giao dịch không cao. Để phục vụ mỗi đối tượng khách hàng của ngân hàng bán lẻ, các ngân hàng cũng phải tốn chi phí như khi phục vụ đối tưcmg khách hàng của dịch vụ ngân hàng bán buôn. Dịch vụ đơn giản, dễ thực hiện: Mục tiêu của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là các khách hàng cá nhân, nên các dịch vụ thường đon giản, tập trung vào dịch vụ tiên gửi và tài khoản, tín dụng, thẻ, tư vấn đầu tư tài chính cá nhân.
9 Dịch vụ ngân hàng bán lẻ thường có tính ngắn hạn: Không như những sản phâm ngân hàng bán buôn, dịch vụ ngân hàng bán lẻ phục vụ đối tượng là các cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong ngăn hạn, tức thời thay vì mục đích kinh doanh dài hạn như của khách hàng tổ chức kinh tế lớn. 1ính cạnh tranh cao: Các NHTM sử dụng nguyên liệu chính trong hoạt động kinh doanh là “tiền” - loại nguyên liệu có tính xã hội hoá và tính nhạy cảm cao do vậy chỉ cân sự thay đôi nhỏ vê lãi suât (đầu vào và đầu ra) cũng sẽ tác động đến việc dịch chuyển của khách hàng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác. Điều này càng được thể hiện rõ nét hơn khi một trong số các NHTM phát triển được dịch vụ thu hút được sự ưa chuộng của xã hội thì ngay lập tức sau đó, các NHTM khác cũng sẽ tạo ra dịch vụ tương tự để cạnh tranh. Do các sản phẩm thay thê liên tục ra đời nên dịch vụ ngân hàng bán lẻ chịu áp lực cạnh tranh cao, đòi hỏi phải liên tục đổi mới, gia tăng tiện ích.
Chi phí hoạt động trung bình cao: số lưọng khách hàng tuy đông nhưng phân tán rộng khấp nên việc giao dịch không được thuận tiện. Vì vậy, để phục vụ các khách hàng này, ngân hàng thường phải mở rộng mạng lưới, đầu tư giao dịch trực tuyến, rất tốn kém. Phương thức quản lý và các hình thức tiếp thị: đa dạng, phức tạp hơn dịch vụ ngân hàng bán buôn do mạng lưới khách hàng trải rộng, lượng khách hàng lớn. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ phát triển chủ yếu dựa trên nền tảng công nghệ và nguồn nhân lực.
Công nghệ càng hiện đại thì chất lượng sản phẩm càng được nâng cao. Bên cạnh đó, để đưa sản phẩm dich vụ đến từng đối tượng khách hàng, ngân hàng phải có một đội ngũ nhân viên lớn và thông thạo nghiệp vụ.1 Dịch vụ huy động vốn Các ngân hàng huy động nguồn vốn từ các cá nhân, các doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ băng các hình thức chủ yếu như: tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiêt kiệm, phát hành giây tờ có giá (GI CG). Nguồn vốn nhàn rỗi của các khách 10 hàng cá nhân, các DN vừa và nhỏ tuy không lớn nhưng với số lượng khách hàng đông sẽ tạo nên nền tảng huy động vốn lớn cho Ngân hàng. Thông thường, do địa bàn huy động dàn trải, nguồn vốn huy động qua các đối tượng khách hàng bán lẻ thường có chi phí cao, và nguồn vốn này thường cũng không đồng đều về không gian địa lý do ảnh hưởng bởi trình độ dân trí và thu nhập.
Các sản phàm huy động vốn bao gồm dịch vụ tài khoản tiền gửi thanh toán, tiên gửi tiết kiệm, giấy tờ có giá. Tài khoản tiền gửi thanh toán là công cụ thanh toán và quản lý tiền một cách chuyên nghiệp. Khách hàng được hưởng các tiện ích khi sử dụng tài khoản thanh toán: - Gửi, rút tiền mặt, chuvển khoản nhanh chóng tại bất cứ điểm giao dịch, máy ATM của ngân hàng trên toàn quốc.