phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng, biểu đồ, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển dịch vụ NHBL tại các NHTM. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ NHBL tại BIDV, CN Thái Bình. Chƣơng 3: Giải pháp góp phần thúc đẩy phát triển dịch vụ NHBL tại BIDV, CN Thái Bình thời gian tới. 8 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng thƣơng mại Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với ngƣời cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vƣợt quá phạm vi của sản phẩm vật chất.Silem (2002), “dịch vụ là một hành động có ích; giúp đỡ, trợ giúp hoặc cung cấp cho ai. Là việc thực hiện bất kỳ một công việc hoặc phần việc nào cho một ngƣời khác; hoạt động có tính chất chuyên môn hoặc có ích lợi”[2].
Theo từ điển bách khoa toàn thƣ Việt Nam, tập 1, dịch vụ là “những hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt”[8,tr.671] Theo Philip Kotller, “Dịch vụ là thực hiện một hoạt động mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, mang bản chất vô hình và không dẫn tới việc chuyển giao quyền sở hữu bất cứ tài sản nào/thứ gì. Quá trình tạo ra dịch vụ có thể gắn với hoặc có thể không gắn với sản phẩm vật chất cụ thể” [36] Theo WTO “một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, đƣợc một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)” [53, tr. Nhƣ vậy, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành trong dịch vụ tài chính nói chung và trên giác độ thoả mãn nhu cầu của khách hàng, có thể hiểu dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trƣờng tài chính.
9 Từ những cách tiếp cận trên, có thể hiểu dịch vụ ngân hàng cần đƣợc hiểu theo hai góc độ: rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, dịch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối. của hệ thống ngân hàng đối với doanh nghiệp và ngƣời dân. Quan niệm theo nghĩa rộng này đƣợc sử dụng để xem xét lĩnh vực dịch vụ ngân hàng trong cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân của một quốc gia.
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng truyền thống (huy động vốn và cho vay). Quan niệm này thƣờng đƣợc dùng để nghiên cứu sự phát triển các dịch vụ ngân hàng mới và cơ cấu các dịch vụ ngân hàng mới trong hoạt động của một ngân hàng cụ thể [12, tr. Trong phạm vi luận văn này, dịch vụ ngân hàng đƣợc hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán,… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản,… và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy. Dịch vụ NHBL Theo khái niệm của tổ chức thƣơng mại thế giới, NHBL là nơi khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại những điểm giao dịch của ngân hàng để thực hiện các giao dịch nhƣ: gửi tiền tiết kiệm, kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ cùng các dịch vụ khác đi kèm.
Các chuyên gia kinh tế của học viện công nghệ châu Á – AIT cho rằng NHBL là ngân hàng cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lƣới CN. Khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua các phƣơng tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin [30]. Theo David Cox, khách hàng trên thị trƣờng NHBL ngoài các cá nhân và hộ gia đình còn có các doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ có thể giao dịch trực tiếp với ngân hàng thông qua hệ thống các CN hoặc sử dụng dịch vụ thông qua các kênh phân phối điện tử [10]. Từ điển giải thích Tài chính – Đầu tƣ – Ngân hàng – Kế toán Anh Việt, dịch vụ NHBL là các dịch vụ ngân hàng đƣợc thực hiện với khách hàng là công chúng, thƣờng 10 có quy mô nhỏ và thông qua các CN nhằm đối lập với dịch vụ NHBB là dịch vụ ngân hàng dành cho các định chế tài chính và những dịch vụ ngân hàng đƣợc cung cấp với số lƣợng lớn [50].
Trong nền kinh tế thị trƣờng, nhu cầu về DVNH ngày càng cao, nhất là DVNHBL. Mục tiêu của DVNHBL là khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp siêu nhỏ nên các dịch vụ thƣờng đơn giản, dễ thực hiện và thƣờng xuyên, tập trung vào dịch vụ tiền gửi và tài khoản, vay vốn mua xe hơi, nhà, mở thẻ tín dụng… Nhờ đó, một lƣợng rất lớn dân cƣ chƣa đƣợc biết đến các sản phẩm, DVNH trong tƣơng lai sẽ tham gia vào lĩnh vực này. Sức mạnh của cuộc cách mạng này sẽ đƣợc nhân lên gấp bội vì có hàng triệu các khách hàng mới từ nông thôn tới đô thị đang tiếp cận các sản phẩm tài chính mới [14] Nhƣ vậy, qua các định nghĩa trên có thể thấy đang tồn tại hai quan niệm về đối tƣợng của dịch vụ NHBL, một quan niệm cho rằng đối tƣợng dịch vụ NHBL chỉ bao gồm khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp siêu nhỏ; một quan niệm cho rằng đối tƣợng dịch vụ NHBL bao gồm khách hàng cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trên cơ sở các khái niệm tham khảo trên đây và qua việc nghiên cứu thực tế dịch vụ NHBL tại một số NHTM Việt Nam, hầu hết các NHTM đều tách biệt và phục vụ đối tƣợng khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa khác nhau, nên tác giả triển khai đề tài nghiên cứu trên cơ sở xác định đối tƣợng dịch vụ NHBL là khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp siêu nhỏ (doanh nghiệp có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 ngƣời và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng đối với lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và công nghiệp, xây dựng và ổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng đối với ĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ).
Trong phạm vi luận văn này, dịch vụ NHBL được hiểu là việc cung ứng dịch vụ ngân hàng tới đối tượng là khách hàng cá nhân, hộ gia đ nh, doanh nghiệp siêu nhỏ thông qua các kênh phân phối của Ngân hàng. Kênh phân phối của ngân hàng có thể là trụ sở CN, các 11 phòng giao dịch hay các kênh phân phối hiện đại nhƣ Internet banking, Mobile banking, ATM, POS, Kiosk, Contact Center,… Dịch vụ NHBL đƣợc phân biệt với dịch vụ NHBB ở đối tƣợng khách hàng và phƣơng thức cung cấp dịch vụ, trong đó, dịch vụ NHBB là cách thức ngân hàng cung cấp dịch vụ thông qua các trung gian tài chính (các NHTM, các quỹ…) hoặc thông qua thị trƣờng tài chính (nhƣ thị trƣờng tiền tệ liên ngân hàng để cho vay, thanh toán bù trừ…) và đối với các công ty, tập đoàn kinh tế lớn với những gói dịch vụ giá trị lớn. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ Thứ nhất, dịch vụ NHBL có thị trường rộng lớn, nhiều tiềm năng, hệ thống phân phối rộng khắp. Đối tƣợng khách hàng của dịch vụ NHBL là các khách hàng cá nhân riêng lẻ, các hộ gia đình, doanh nghiệp siêu nhỏ nên số lƣợng khách hàng phục vụ rất lớn.
Tuy nhiên, giá trị, quy mô của mỗi giao dịch thƣờng nhỏ hơn giá trị các giao dịch ngân hàng bán buôn, chỉ ở mức tƣơng ứng phù hợp với nhu cầu của một cá nhân hay một hộ gia đình vì NHBL chủ yếu cung cấp dịch vụ cho tiêu dùng. Ngoài ra, do nhu cầu khách hàng mang tính thời điểm, tùy thuộc vào mỗi giai đoạn khác nhau, không phải lúc nào nhu cầu về một mặt hàng cũng xuất hiện với tần xuất cao và liên tục. Ở mỗi thời điểm con ngƣời lại có mong muốn, nhu cầu và mức độ thỏa mãn khác nhau đòi hỏi phải có các phẩm dịch vụ đa dạng phù hợp từng giai đoạn điều kiện nhất định. Vì vậy, các NHTM thƣờng đa dạng về chủng loại giao dịch, sản phẩm dịch vụ và có nhiều hình thức khuyến mại cũng nhƣ nhiều kênh phân phối khác nhau và các tiện ích đi kèm để mở rộng quy mô của giao dịch.
Thứ hai, sản phẩm dịch vụ NHBL dựa trên nền tảng của hệ thống thông tin hiện đại. CNTT là tiền đề quan trọng để lƣu giữ và xử lý cơ sở dữ liệu tập trung, cho phép các giao dịch trực tuyến đƣợc thực hiện; hỗ trợ triển khai các sản phẩm dịch vụ NHBL tiên tiến nhƣ chuyển tiền tự động, huy động vốn và cho vay dân cƣ dƣới nhiều hình thức khác nhau. Nhờ khả năng trao đổi thông tin tức thời, CNTT góp phần nâng cao hiệu quả của việc quản trị ngân hàng, tạo điều kiện thực hiện mô hình xử lý tập trung các giao dịch có tính chất phân tán nhƣ chuyển tiền, giao dịch thẻ, tiết giảm đáng kể chi phí 12 giao dịch. CNTT có tác dụng tăng cƣờng khả năng quản trị trong ngân hàng, hệ thống quản trị tập trung sẽ cho phép khai thác dữ liệu một cách nhất quán, chính xác, nhanh chóng.
Hơn nữa, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, điện tử viễn thông, internet các NHBL mới có thể cung cấp ngày càng nhiều các sản phẩm bán lẻ cho mọi đối tƣợng khách hàng, điển hình là dịch vụ thanh toán thẻ qua máy rút tiền tự động ATM, các dịch vụ ngân hàng tại nhà qua điện thoại và mạng internet.