CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA ĐẦU TƯ THEO MÔ HÌNH IDP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu tiếp cận từ mô hình IDP Trên thế giới đã có nhiều công trình ứng dụng mô hình IDP trong nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia. Đối tượng nghiên cứu ban đầu là một quốc gia (Ấn Độ, Trung Quốc, Romania, Bồ Đào Nha, Phần Lan…) sau đó được mở rộng ra một nhóm quốc gia (Trung Đông và Bắc Phi, Trung và Đông Âu).
Việc nghiên cứu sự phát triển hai dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài của nhóm quốc gia được các tác giả thực hiện thông qua hai cách (1) coi tất cả các quốc gia trong nhóm như “một” quốc gia (sử dụng số liệu tổng hợp hoặc số liệu sẵn có của nhóm) để xem xét; và (2) phân cụm các quốc gia trong nhóm dựa trên sự tương đồng ở mức độ nhất định về trình độ phát triển kinh tế hoặc mức độ đầu tư trực tiếp nước ngoài để so sánh và đánh giá. Xét về phương pháp nghiên cứu, các công trình tiếp cận từ mô hình IDP chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua việc kiểm định mô hình được đề xuất trong lý thuyết. Ngoài ra, một vài công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, đối chiếu các đặc điểm phát triển của quốc gia với các đặc trưng trong từng giai đoạn IDP để đưa ra kết luận về sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của quốc gia đó. Trong phạm vi khả năng của học viên, những công trình dưới đây được tổng thuật theo vấn đề nghiên cứu.
Nghiên cứu IDP của các nhóm quốc gia 1. Nghiên cứu về nhóm các quốc gia Trung Đông và Bắc Phi Bài báo “Foreign Direct Investment and Development in MENA Countries” (Divarci và cộng sự, 2005) nghiên cứu mô hình IDP trong trường hợp của từng quốc gia Trung Đông và Bắc Phi (MENA) và của toàn khu vực MENA nói chung.nam 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam Bài báo sử dụng phần mềm Stata 8 với số liệu lượng FDI và mức GDP hiện hành của 20 quốc gia MENA trong giai đoạn 1980 - 2003 từ cơ sở dữ liệu của UNCTAD. Đầu tiên, nhóm tác giả phân tích hiệp phương sai để lựa chọn kỹ thuật ước lượng. IDP cho từng quốc gia trong mẫu được ước lượng bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS).
Ước lượng IDP toàn khối MENA sử dụng số liệu tổng hợp. Hai phương trình được sử dụng có dạng: NOI = β0 + β1GDP + β2GDP2 + ε (1) NOI = β0 + β1GDP3 + β2GDP5 + ε (2) Theo quan điểm của nhóm tác giả, phương trình (2) nâng bậc của biến GDP ước lượng tốt hơn (1) đối với các quốc gia có tốc tăng trưởng IFDI nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP, thể hiện qua độ dốc của đồ thị lớn hơn. Nhóm tác giả kỳ vọng giá trị của β1 âm và β2 dương để củng cố mối quan hệ giữa FDI và NOI của một số quốc gia (mối quan hệ được minh họa bằng đồ thị hình chữ U). Kết quả nghiên cứu cho thấy lý thuyết IDP đúng trong trường hợp của các quốc gia Ai Cập, Oman, Quata, Sudan và Tunisia (giai đoạn II, NOI âm, OFDI < IFDI), Bahrain, Thổ Nhĩ Kỳ (giai đoạn III, NOI âm nhưng đã mức độ âm đã giảm) và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (giai đoạn IV, NOI dương, OFDI > IFDI).
Kết quả nghiên cứu toàn khối MENA cũng phù hợp với cách tiếp cận từ mô hình IDP trong việc xác định sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của khối đã đạt đến giai đoạn II (nhận đầu tư ròng). Nhóm tác giả chỉ ra rằng, nhìn chung MENA vẫn là một khu vực thu hút IFDI do tài nguyên thiên nhiên dồi dào và các chính sách thuận lợi được các chính phủ quốc gia thông qua (ví dụ như chính sách tư nhân hóa). Trong khi IFDI phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên, OFDI với lượng thấp cho thấy sự thiếu hụt các lợi thế sở hữu của các doanh nghiệp nội địa (ownership advantages). Bản chất sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của Ai Cập, Quata và Tunisia ở giai đoạn II được nhóm tác giả cho rằng là sự phát triển tự nhiên các lợi thế O và L của các quốc gia này (lợi thế sở hữu của các doanh nghiệp nội địa được cải thiện).
Bahrain và Thổ Nhĩ Kỳ đã chuyển sang giai đoạn III khi các lợi thế cạnh tranh ở thị trường nước (LUAN.nam 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam ngoài và đặc biệt là ở các ngành truyền thống được cải thiện so với giai đoạn II. Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất đã có được những đặc điểm của một quốc gia ở giai đoạn IV (NOI dương, OFDI > IFDI), trở thành một quốc gia đầu tư ra nước ngoài ròng, có sự cải thiện của các lợi thế cạnh tranh trên thị trường nước ngoài. Nghiên cứu IDP của nhóm các quốc gia Trung và Đông Âu Bài báo “FDI-assisted Development in the light of the Investment Development Path Paradigm: Evidence from Central and Eastern European Countries” (Boudier-Bensebaa, 2008) nghiên cứu trường hợp của các quốc gia Trung và Đông Âu (CEE). Tác giả sử dụng số liệu lượng FDI và GDP danh nghĩa, số liệu về dân số từ các cơ sở dữ liệu UNCTAD, WB, IMF của 27 quốc gia CEE để ước lượng phương trình có dạng: NOIPpc = α + β1GDPpc + β2GDPpc2 + μ Tuy nhiên do toàn bộ các quốc gia CEE không phải là một nhóm đồng nhất (về quy mô, các nguồn lực sản xuất, quá trình ổn định kinh tế vĩ mô…), tác giả đã phân cụm các quốc gia thành 5 cụm sử dụng phương pháp phân tích phân cụm tích tụ liên kết thứ bậc Ward.
Kết quả kiểm định cho thấy sự phù hợp với lý thuyết IDP, chỉ ra rằng sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia CEE nhìn chung ở giai đoạn I và II. Nghiên cứu khẳng định các quốc gia CEE kém phát triển nhất có sự tương đồng với các quốc gia CEE phát triển hơn về trình độ phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưng không có sự tương đồng về trình độ phát triển kinh tế. Bài báo “Foreign Direct Investment of Central and Eastern European Countries and the Investment Development Path Revisited” (Gorynia và cộng sự, 2010) nghiên cứu trường hợp của 10 quốc gia Trung và Đông Âu (CEE10) trong giai đoạn 1990 - 2008 (hai thập kỷ các quốc gia này chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và thời kỳ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ). Mục đích của nghiên cứu là quan sát và giải thích những đặc tính của quốc gia trong các giai đoạn IDP và liên hệ với mô hình IDP theo lý thuyết.
Số liệu từ UNCTAD và Văn phòng thống kê trung ương Ba Lan được sử dụng để tính toán các chỉ số và mô tả dưới dạng biểu đồ. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng một nửa các quốc gia CEE10 đã tiến vào giai đoạn III (LUAN.nam 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam trong khi nửa còn lại ở giai đoạn II hoặc đang tiếp cận dần với giai đoạn III. Nhóm tác giả chỉ ra quá trình phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số quốc gia CEE10 có chịu tác động từ sự gia nhập Liên minh Châu Âu (EU) (chuyển từ giai đoạn II sang giai đoạn III) và từ khủng hoảng kinh tế. Tác động của việc gia nhập EU đến quá trình phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia Trung Âu cũng được chính nhóm tác giả nhấn mạnh trong bài báo “Investment Development Path of Central European Countries: A Comparative Analysis” (Gorynia và cộng sự, 2010) đối với bốn quốc gia Trung Âu (Cộng hòa Séc, Hungari, Ba Lan và Slovakia) Bên cạnh việc xem xét kỹ hơn bốn quốc gia, nghiên cứu khẳng định rằng tác động chính của sự gia nhập EU đã đẩy các quốc gia này tiến lại gần hơn giai đoạn III thông qua việc thúc đẩy OFDI.
Tuy nhiên, tác động này chỉ xảy ra trong một thời gian rất ngắn, trên thực tế là không quá một năm (năm 2005) sau khi các quốc gia đã trở thành thành viên chính thức. Thêm vào đó, tác động này xuất hiện với một xu thế đáng ngạc nhiên rằng tác động tích cực của việc gia nhập càng mạnh mẽ đối với một quốc gia phát triển thì tác động “ngược” xảy ra sau đó do sự tăng tốc độ tăng trưởng âm của NOI bình quân đầu người càng mạnh. Hậu quả là các quốc gia này vẫn chỉ có thể nằm trong giai đoạn II mà không tiến vào giai đoạn III. Luận văn “Analysis of the Investment Development Path in the Central and Eastern European Countries: Can they move further?” (Tomas, 2014) phân tích con đường phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia CEE.
Số liệu được cập nhật đến năm 2012 cho phép tác giả kiểm tra tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008/09 lên giá trị thực chứng của mô hình IDP. Tác giả phân cụm hai nhóm quốc gia theo trình độ phát triển để ước lượng phương trình có dạng: NOIPpc = β0 + β1GDPpc + β2GDPpc2 + μ Kết quả nghiên cứu cho thấy nhìn chung sự phát triển đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia CEE phù hợp với lý thuyết IDP; nhưng đối với các cụm thì lý thuyết IDP phù hợp hơn với các quốc gia phát triển hơn. Trái ngược với thời kỳ trước khủng hoảng, các quốc gia CEE đã không đạt được đến giai đoạn III; điều này (LUAN.nam 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam có nghĩa rằng cuộc khủng hoảng có thể đã kéo lùi sự phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra các yếu tố xác định OFDI đối với nước chủ đầu tư trên các cấp độ doanh nghiệp (quy mô và thời gian hoạt động, khả năng sinh lợi nhuận, năng suất lao động, tài sản vô hình, nghiên cứu và phát triển, năng lực công nghệ) và cấp độ quốc gia (quy mô và nhu cầu thị trường, độ mở của đầu tư và thương mại, rủi ro chính trị, hiệu suất thể chế, lãi suất, tỷ giá hối đoái, ổn định kinh tế vĩ mô, công nghệ, vốn nhân lực).
Bài báo “The Limitation of Investment Development Path Theory - European Union Case” (Iacovoiu và Panait, 2014) nhấn mạnh vào tính ứng dụng của lý thuyết IDP khi xem xét kết quả nghiên cứu thực chứng của mô hình. Điểm đặc biệt là nhóm tác giả đã phân định các giai đoạn IDP của quốc gia dựa trên giá trị GDP bình quân đầu người, cụ thể: Giai đoạn I với mức dưới 2.500 USD; giai đoạn II với mức 2.