Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van 13 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC PHẤT TRIỂN ĐẢNG VIÊN CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG Ở CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƢỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Doanh nghiệp ngoài nhà nƣớc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và công tác phát triển đảng viên của tổ chức đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nƣớc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 1. Các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Ngày 29 tháng 11 năm 2005, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, đã thông qua Luật Doanh nghiệp.
Luật doanh nghiệp quy định, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Quốc tịch của doanh nghiệp là quốc tịch của nước, vùng lãnh thổ nơi doanh nghiệp thành lập, đăng ký kinh doanh. Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.
Những doanh nghiệp ngoài nhà nước là những doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản tư nhân hoạt động theo Luật doanh nghiệp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiện tại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh các doanh nghiệp ngoài nhà nước gồm có các loại hình doanh nghiệp sau đây: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần có vốn nhà nước, doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài. Theo báo cáo số 122-BC/TU của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 1 năm 2013, tính đến tháng 1 năm 2013 doanh nghiệp ngoài nhà nước “ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có 78.261 doanh nghiệp với 1.127 lao động, trong đó 1071 doanh nghiệp đang hoạt động tại các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao của thành phố (656 doanh Luan van 14 nghiệp tư nhân, 414 doanh nghiệp 100% vồn nước ngoài). So với năm 2002 tăng 5,5 lần về số lượng doanh nghiệp và tăng 2,2 lần về số lượng lao động.” Cụ thể, về nguồn vốn và quy mô lao động của các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như sau: - Doanh nghiệp tư nhân: có 76.673 doanh nghiệp, với 1.019 lao động, gồm có 55.119 (26,24 %) doanH nghiệp nhỏ (có từ 10 - 200 lao động), 291 (0,38 %) doanh nghiệp vừa (có từ 200- 300 lao động), 422 (0,55 %) doanh nghiệp lớn (có từ 300 lao động trở lên), trong đó có 145 doanh nghiệp có từ 500 lao động trở lên.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: có 1.588 doanh nghiệp với 370.108 lao động, gồm 444 (27, 96%) doanh nghiệp siêu nhỏ; 835 (52, 58%) doanh nghiệp nhỏ; 84 (5,29%) doanh nghiệp vừa; 225 (14, 17%) doanh nghiệp lớn, trong đó có 138 doanh nghiệp có từ 500 lao động trở lên” [31, tr.1] Các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã có những đóng góp đáng kể đối với sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh. “Sự phát triển của các doanh nghiệp ( ngoài nhà nước) đã tạo việc làm và góp phần ổn định đời sống cho trên 1,4 triệu lao động (chiếm 76, 91 % tổng số lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố), chiếm 72,42 % tổng vốn sản xuất - kinh doanh bình quân năm 2010 của các loại hình doanh nghiệp; đóng góp 60 % tổng sản phẩm trong nước trên địa bàn thành phố năm 2010 và tích cực tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện” [ 31, tr.2] Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng có sự biến động, mặc dù số lượng vẫn tăng. Theo Báo cáo công tác xây dựng Đảng, đoàn thể chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập năm 2013 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2014 của Ban tổ chức Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh, “trong năm 2013 “có trên 2.6000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, đồng thời trong đó có gần 19.000 doanh nghiệp ngưng hoạt động” [1,1]. Theo đánh giá của Thành ủy Hồ Chí Minh, đặc điểm nổi bật của các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đó là “các Luan van 15 doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ (theo quy mô lao động 99 % (75.673) doanh nghiệp tư nhân có dưới 200 lao động) nên có khả năng điều chỉnh tương đối nhanh hoạt động sản xuất - kinh doanh, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế nước ta bị tác động với khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý, khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, có khả năng cạnh tranh cao, tạo động lực cho doanh nghiệp trong nước nâng cao trình độ quản lý, đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại, góp phần đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật có tay nghề cao, có tác phong công nghiệp. Tuy nhiên, nhìn chung trình độ quản lý, việc xác định đúng đắn chiến lược sản xuất - kinh doanh, thiếu vốn, năng lực cạnh tranh, khả năng tiếp cận thị trường trong nước và ngoài nước của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế, năng xuất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh không ổn định, số lượng doanh nghiệp thua lỗ phải giải thể hàng năm vẫn diễn ra, thậm chí có năm tăng lên. Không ít doanh nghiệp có hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, vi phạm các quy định về trả lương, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo vệ môi trường, an toàn vệ sinh lao động. Tình trạng tranh chấp lao động vẫn còn xảy ra, có tác động đến quan hệ lao động, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp” [31, tr.
Các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được quy định trong Luật doanh nghiệp; bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh. Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp. Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hoá, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.
Luan van 16 Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của doanh nghiệp thì doanh nghiệp được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm công bố trưng mua hoặc trưng dụng. Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp và không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và theo Điều lệ của tổ chức mình phù hợp với quy định của pháp luật. Doanh nghiệp có nghĩa vụ tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động thành lập và tham gia hoạt động trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở doanh nghiệp.
Công nhân, người lao động ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh mang trong mình truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam. Đó là tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, tự lực tự cường, tự tôn dân tộc, tư tưởng nhân văn cao cả, nhân ái, trọng đạo lý trong lối sống, trong ứng xử giữa con người với con người, giữa cộng đồng với cộng đồng. Trong lao động sản xuất đó là truyền thống cần cù, chịu thương, chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ, kiên trì, nhẫn nại làm cho con người Việt Nam có khả năng thích ứng cao và nhanh chóng hoà nhập trong điều kiện mới hiện nay; có tư chất thông minh, sáng tạo, có khả năng vận dụng và thích ứng nhanh, đó là những ưu thế nổi trội. Những phẩm chất này khẳng định công nhân, người lao động Việt Nam trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước có thể theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ hiện đại.
Tuy nhiên, cũng cần thấy rõ những hạn chế của công nhân và người lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Đó là thể lực vẫn còn kém hơn nhiều so với một số nước trong khu vực. Trình độ tay nghề, năng lực chuyên môn, khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp còn rất hạn chế. Đại bộ phận chưa được đào tạo đầy đủ, chứ chưa nói đến chất lượng đào tạo và sự phù hợp của việc đào tạo nghề với thực tiễn thực hành công việc.
Thu nhập và đời sống của người lao động ở các doanh nghiệp Luan van 17 ngoài Nhà nước thấp, do chất lượng nguồn lao động thấp, trước hết là sự thấp kém về thể chất, sức khoẻ; do chưa được được đào tạo… Chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là đào tạo nghề cho lao động chưa thực sự tương xứng với đòi hỏi của các doanh nghiệp ngoài Nhà nước. Bên cạnh những truyền thống quý báu cần được gìn dữ và phát huy thì cũng tồn tại những hạn chế, tiêu cực không nhỏ. Nổi cộm là những nhược điểm của tư tưởng và tâm lý người tiểu nông, thiếu tri thức khoa học; dễ thoả mãn, dừng lại, bảo thủ, dung hoà; nể nang, tuỳ tiện, a dua, ăn theo… * Các tổ chức đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Theo Báo cáo của Ban Tổ chức Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, số 21-BC/BTCTU, ngày 02 tháng 4 năm 2014, đến ngày 31 tháng 12 năm 2013, Đảng bộ thành phố có 880 tổ chức đảng ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước, với 8.
Bao gồm: - Doanh nghiệp tư nhân có 386 tổ chức đảng với 4.093 đảng viên, trong đó có 78 doanh nghiệp có từ 500 lao động trở lên có tổ chức đảng, đạt tỷ lệ 54,2% số doanh nghiệp.