Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển công nghiệp Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Chương 4: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp tại địa phƣơng 1. Lý luận về công nghiệp 1.
Một số khái niệm a) Công nghiệp Theo tác giả Nguyễn Như Ý tại Từ điển bách khoa toàn thư được nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội xuất bản năm 1998, công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật. Theo tác giả Nguyễn Đình Đạm tại Từ điển tiếng Việt được nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 1999, công nghiệp (hoặc kỹ nghệ) là toàn thể những hoạt động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lượng, và chuyển biến các nguyên liệu - gốc động vật, hoặc thực vật hay khoáng vật thành sản phẩm. Theo tác giả Nguyễn Đình Phan và Nguyễn Kế Tuấn tại Giáo trình kinh tế và quản lý công nghiệp được Nhà xuất bản đại học kinh tế quốc dân xuất bản năm 2007 định nghĩa “công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất – một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội” Như vậy, có thể thấy công nghiệp là một ngành kinh tế sản xuất vật chất gắn với việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên, chế biến, chế tạo các nguyên liệu khoáng vật, động vật, thực vật thành các sản phẩm đầu ra.
Công nghiệp gồm 3 hoạt động chủ yếu: - Khai thác tài nguyên khoáng sản - Chế biến, chế tạo các tài nguyên khoáng sản, sản phẩm của nông, lâm, ngư nghiệp thành các loại sản phẩm khác nhau đáp ứng nhu cầu xã hội. 6 - Sửa chữa các sản phẩm công nghiệp, máy móc nhằm khôi phục giá trị sử dụng của chúng. b) Ngành Công nghiệp Căn cứ theo Quyết định số 486-TCTK/CN của Tổng Cục thống kê về việc quy định việc phân ngành cụ thể trong công nghiệp và bảng mục lục ngành nghề cụ thể trong công nghiệp, Ngành Công nghiệp là một ngành sản xuất vật chất bao gồm các hoạt động khai thác của cải vật chất, chế biến và sửa chữa máy móc thiết bị, vật phẩm tiêu dùng. Các hoạt động của ngành Công nghiệp bao gồm: - Khai thác của cải vật chất có sẵn trong thiên nhiên mà lao động của con người chưa tác động vào.
- Chế biến những sản phẩm đã khai thác và chế biến sản phẩm của nông nghiệp. - Hoạt động sản xuất công nghiệp còn bao gồm cả việc sửa chữa máy móc thiết bị và vật phẩm tiêu dùng. Như vậy là tất cả các hoạt động khai thác chế biến và sửa chữa nói trên không kể quy mô, hình thức như thế nào, không kể với loại công cụ lao động gì, hoặc bằng cơ khí hiện đại, nửa cơ khí, hoặc bằng công cụ thô sơ dựa vào sức lao động và sự khéo léo của chân tay người lao động là chính, đều xếp vào ngành công nghiệp. Đặc điểm của Công nghiệp Nếu xét trên góc độ tổng hợp các mối quan hệ của con người trong hoạt động sản xuất thì quá trình sản xuất là sự tổng hợp của hai mặt: Mặt kỹ thuật của sản xuất và mặt kinh tế xã hội của sản xuất.
Trong lĩnh vực sản xuất vật chất của xã hội, do sự phân công lao động xã hội nền kinh tế chia thành nhiều ngành kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng. Tuy nhiên, xét trên phương diện tính chất tương tự của công nghệ sản xuất, có thể coi đó là tổng thể của hai ngành cơ bản: nông nghiệp và công nghiệp còn các ngành khác có thể là các dạng đặc thù của hai ngành. 7 Từ ý nghĩa đó, cần xem xét các đặc trưng của sản xuất công nghiệp khác với sản xuất nông nghiệp trên cả hai mặt: Mặt kỹ thuật của sản xuất và mặt kinh tế xã hội của sản xuất. a) Các đặc điểm về mặt kỹ thuật sản xuất của công nghiệp được thể hiện ở các khía cạnh chủ yếu sau Đặc điểm về công nghệ sản xuất, trong công nghiệp chủ yếu là quá trình tác động trực tiếp bằng phương pháp cơ lý hoá của con người, làm thay đổi các đối tượng lao động thành những sản phẩm thích ứng với nhu cầu của con người.
Trong khi đó sản xuất nông nghiệp lại bằng phương pháp sinh học là chủ yếu do đó nghiên cứu đặc điểm về công nghệ sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức sản xuất và ứng dụng khoa học công nghệ thích ứng với mỗi ngành, trong công nghiệp hiện nay, phương pháp sinh học cũng được ứng dụng rộng rãi đặc biệt là công nghiệp thực phẩm. Đặc điểm và sự biến đổi của các đối tượng lao động sau mỗi chu kì sản xuất của quá trình sản xuất công nghiệp sau: Các đối tượng lao động của quá trình sản xuất công nghiệp sau mỗi chu kì sản xuất được thay đổi hoàn toàn về chất từ công dụng cụ thể này chuyển sang các sản phẩm có công dụng cụ thể hoàn toàn khác, nghiên cứu đặc điểm này của sản xuất công nghiệp có ý nghĩa thực tiễn rất thiết thực trong việc khai thác và sử dụng nguyên liệu. Vậy sản xuất công nghiệp là hoạt động sản xuất duy nhất tạo ra những sản phẩm thực hiện chức năng là các tư liệu lao động trong các ngành kinh tế. Đặc điểm này cho thấy vị trí chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan, xuất phát từ bản chất của quá trình sản xuất đó.
b) Đặc điểm kinh tế xã hội của sản xuất Trong quá trình phát triển, công nghiệp luôn luôn là ngành có điều kiện phát triển về kỹ thuật, lực lượng sản xuất phát triển nhanh ở trình độ cao, nhờ đó mà quan hệ sản xuất có tính tiên tiến hơn. Nghiên cứu các đặc điểm về mặt kinh tế, xã hội của sản xuất công nghiệp có ý nghĩa thiết thực trong tổ chức 8 sản xuất, trong việc phát huy vai trò chủ đạo của công nghiệp đối với các ngành kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia. Phân loại Công nghiệp Một trong những nội dung quan trọng của tổ chức quản lý ngành công nghiệp là tổ chức sắp xếp hoạt động sản xuất công nghiệp thành các lĩnh vực, loại hình sở hữu và thành các ngành có đặc trưng chuyên môn hóa để hình thành các đối tượng quản lý có đặc trưng khác nhau, từ đó tổ chức hợp lý và có hiệu quả quá trình chuyên môn hóa trong hoạt động quản lý. Để thực hiện điều đó, cần có những phương pháp phân loại sản xuất dựa trên những căn cứ khoa học nhất định.
Có rất nhiều tiêu chí để phân loại công nghiệp trong hoạt động quản lý công nghiệp, chúng ta thường sử dụng một số biện pháp phân loại công nghiệp sau: a) Phân loại công nghiệp dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm Căn cứ vào phương pháp phân loại này là dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm người ta chia công nghiệp thành các ngành sản xuất tư liệu sản xuất và các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng. Các sản phẩm có chức năng là tư liệu sản xuất thuộc nhóm A, các sản phẩm là tư liệu tiêu dùng thuộc nhóm B. Ngoài ra, người ta còn sắp xếp các cơ sở sản xuất công nghiệp vào 2 nhóm ngành tương ứng là công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, Ngành công nghiệp nặng là tổng hợp các đơn vị sản xuất kinh doanh sản xuất ra các sản phẩm là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt là tư liệu lao động, còn ngành công nghiệp nhẹ là tổng hợp các đơn vị sản xuất kinh doanh sản xuất ra các sản phẩm là tư liệu dùng trong sinh hoạt là chủ yếu. Căn cứ của sự phân loại này là dựa vào phương hướng sản xuất kinh doanh chủ yếu và tỉ trọng sản phẩm được sản xuất là tư liệu sản xuất hay tư liệu tiêu dùng.
- Phương pháp này có ý nghĩa rất lớn trong việc vận dụng quy luật tái sản xuất mở rộng để xây dựng mô hình cơ cấu công nghiệp phù hợp cho mỗi nước, trong mỗi thời kì phát triển của nền kinh tế 9 b) Phân loại công nghiệp thành các ngành công nghiệp chuyên môn hóa hẹp Phương pháp phân loại công nghiệp này được dựa vào các đặc trưng kỹ thuật giống nhau hoặc tương tự nhau để sắp xếp các đơn vị sản xuất kinh doanh thành các đơn vị sản xuất kinh doanh thành các ngành chuyên môn hóa. - Ngành công nghiệp chuyên môn hóa là tổng hợp các xí nghiệp sản xuất công nghiệp mà hoạt động sản xuất chủ yếu của chúng có những đặc trưng kỹ thuật sản xuất giống nhau hoặc tương tự nhau về: - Cùng thực hiện một phương pháp công nghệ hoặc công nghệ tương tự nhau (cơ, lý, hóa hoặc sinh học). - Sản phẩm được sản xuất từ một loại nguyên liệu hay nguyên liệu đồng loại. - Sản phẩm có công dụng cụ thể giống nhau hoặc tương tự nhau - Trong ba đặc trưng trên thì đặc trưng về công dụng cụ thể là quan trọng nhất, nó quyết định đến tính chất của sản phẩm cũng như những đặc trưng kỹ thuật của sản phẩm công nghiệp.
- Phương pháp phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong xây dựng các mô hình cơ cấu cân đối liên ngành, đặc biệt đối với các loại sản phẩm chủ yếu, quan trọng của công nghiệp, trong việc lựa chọn các hình thức mối liên hệ sản xuất giữa các ngành. - Hai phương pháp phân loại nêu trên là những cách phân loại công nghiệp hóa theo ngành để hình thành các lĩnh vực và các ngành công nghiệp chuyên môn hóa, chúng được sử dụng phổ biến ở các nước. Căn cứ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ngày 06/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, danh mục Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, ngành cấp 1 gồm 21 ngành được mã hóa theo bảng chữ cái lần lượt từ A đến U.