lời mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục gồm có ba phần chính với nội dung nhƣ sau Chƣơng I : Tổng quan về công nghiệp hỗ trợ Chƣơng II : Thực trạng ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản Chƣơng III : Phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam từ kinh nghiệm của Nhật Bản 6 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1.1 Khái niệm về Công nghiệp hỗ trợ 1. Khái niệm Thuật ngữ CNHT xuất hiện từ khi xã hội có sự phân công lao động ở trình độ cao, khi mà các công đoạn sản xuất đƣợc chuyên môn hóa, mỗi bộ phận chi tiết đƣợc thực hiện trong các doanh nghiệp khác nhau và cung cấp cho một doanh nghiệp gia công lắp ráp để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Và mặc dù thuật ngữ này đã đƣợc sử dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc, nhƣng nó vẫn không đƣợc rõ ràng và đồng nhất về mặt định nghĩa. Trên thực tế, khái niệm CNHT đƣợc hiểu và tiếp cận tùy thuộc vào tình hình kinh tế xã hội của một quốc gia và các mục tiêu chiến lƣợc công nghiệp của quốc gia đó, và các quốc gia khác nhau có cách định nghĩa không giống nhau.
Trong các văn bản cấp quốc gia hiện tại, có ba cách thể hiện chính thức định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ nhƣ sau: Theo cách tiếp cận tổng quát, Bộ Kinh tế, Thƣơng mại và Công nghiệp Nhật Bản (Ministry of Economy, Trade and Industry - METI) chính thức định nghĩa về CNHT trong chƣơng trình hành động phát triển CNHT Châu Á vào năm 1993 nhƣ sau: “CNHT là các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố cần thiết nhƣ nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn, vvv. cho các ngành công nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử)”[20]. Cũng đồng quan điểm nhƣ vậy, Phòng Năng lƣợng Hoa Kỳ trong ấn phẩm năm 2004 với tên gọi “Các ngành công nghiệp phụ trợ: Công nghiệp của tương lai”, đã định nghĩa công nghiệp hỗ trợ là những ngành sử dụng nguyên vật liệu và các quy trình cần thiết để định hình và chế tạo ra sản phẩm trƣớc khi chúng đƣợc lƣu thông đến ngành công nghiệp sử dụng cuối cùng (end-use indutries). Tuy khái niệm của Phòng Năng lƣợng Hoa Kỳ đƣa ra rất tổng quát nhƣng cơ quan này, trong phạm vi chức năng của mình, tập trung chủ yếu vào mục tiêu tiết kiệm năng lƣợng.
Do đó, công nghiệp hỗ trợ theo quan điểm của cơ quan này là những ngành tiêu tốn nhiều năng lƣợng nhƣ than, luyện kim, thiết bị nhiệt, hàn, đúc… Tuy nhiên, theo cách tiếp cận cụ thể, văn phòng phát triển CNHT Thái Lan (Bureau of Supporting Industries Development - BSID) đƣa ra định nghĩa về CNHT 7 nhƣ sau: “CNHT là các ngành công nghiệp cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản (theo đó các ngành cơ khí, máy móc, linh kiện cho ô tô, điện & điện tử là những ngành CNHT quan trọng)”. [20] Còn theo cách liệt kê, Hội đồng Đầu tƣ Thái Lan phân loại các ngành công nghiệp sản xuất thành phẩm thành 3 bậc: lắp ráp, sản xuất linh kiện và phụ kiện, và các ngành CNHT. Năm sản phẩm chính của ngành CNHT là gia công khuôn mẫu, gia công áp lực, đúc, cán và các gia công nhiệt. Các định nghĩa trên chủ yếu nhìn công nghiệp hỗ trợ theo góc độ ngành, nếu tiếp cận theo chuỗi giá trị, từ góc độ doanh nghiệp, CNHT có thể hiểu gồm ba dạng doanh nghiệp: - Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc ở nƣớc ngoài (import).
- Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc nƣớc ngoài ở thị trƣờng trong nƣớc (foreign suppliers). - Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc ở nội địa (dosmetic suppliers). Ở Việt Nam, thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” là một thuật ngữ khá mới mẻ. Một giai đoạn dài cho đến trƣớc đổi mới, nền kinh tế nƣớc ta vừa còn mang đậm dấu ấn của nền kinh tế tự cung tự cấp, vừa bị ảnh hƣởng của nhận thức mang tính giáo điều về tính độc lập tự chủ, cái gì cũng tự làm lấy, từ đầu đến cuối, thậm chí ở riêng từng xí nghiệp, nên ở Việt Nam chƣa thực sự hình thành CNHT.
Tiếp đến là giai đoạn đón nhận một cách thiếu chọn lọc đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI), dẫn đến sự xuất hiện của hàng loạt cơ sở gia công, lắp ráp với nguyên phụ liệu và linh kiện, phụ tùng hầu hết là nhập khẩu. Mãi đến năm 2003, thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” đƣợc nhắc đến lần đầu tại Việt Nam trong Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản. Đây là một văn kiện quan trọng đã đƣợc thủ tƣớng Phan Văn Khải và thủ tƣớng Koizumi thống nhất quyết định đƣa vào thực hiện. Bản kế hoạch hành động triển khai sáng kiến chung bao gồm 44 hạng mục lớn, trong đó hạng mục đầu tiên là nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam.
Năm 2006, Diễn đàn phát triển Việt Nam đã đƣa ra định nghĩa về CNHT nhƣ sau: “CNHT là một nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp các đầu vào trung 8 gian (gồm linh kiện, phụ tùng, và công cụ để chế tạo ra phụ tùng, linh kiện này) cho các ngành công nghiệp lắp ráp và chế biến”[10]. Tuy vậy, cho tới nay, vẫn chƣa có một khái niệm cụ thể nào trong các văn bản pháp quy cho ngành CNHT ở Việt Nam và ngành này đƣợc hiểu nhƣ một ngành công nghiệp phụ giúp cho việc lắp ráp các sản phẩm cuối cùng, thông qua việc cung cấp các bộ phận, chi tiết hoặc các sản phẩm hàng hóa trung gian khác. Nhƣ vậy, dù có những cách định nghĩa khác nhau nhƣng nói chung khái niệm “công nghiệp hỗ trợ” là dùng để chỉ ngành công nghiệp chuyên sản xuất ra các sản phẩm phụ trợ cho việc sản xuất của các ngành công nghiệp chính, và các doanh nghiệp chuyên sản xuất các linh phụ kiện này đƣợc hiểu là doanh nghiệp CNHT. Trong khuôn khổ của luận văn này, ta hiểu CNHT theo định nghĩa do Diễn đàn phát triển Việt Nam đƣa ra năm 2006 từ đó xem CNHT là hoạt động công nghiệp cung cấp các đầu vào trung gian cho các ngành công nghiệp lắp ráp và chế biến.
NHÀ LẮP RÁP NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ LINH PHỤ KIỆN CAO SU NHỰA ĐIỆN ỐC VÍT LÒ XO ÉP CÁN ĐÚC DẬP MÁY MÓC CÁN THÉP XỬ LÝ NHIỆT VẬT LIỆU ÉP NGUYÊN LIỆU THÔ Hình 1.1: Ngành công nghiệp hỗ trợ, gồm linh kiện và chế biến Nguồn: Báo cáo điều tra xây dựng và tăng cường ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt nam - KYOSHIRO ICHIKAWA (Tư vấn Đầu tư Cao cấp,Cục Xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản tại Hà nội) Hình 1.1 là một ví dụ thể hiện khái niệm và kết cấu cơ bản của ngành công nghiệp hỗ trợ. Ngành CNHT cần đƣợc coi là một cơ sở công nghiệp hoạt động với 9 nhiều chức năng để phục vụ một số lƣợng lớn các ngành lắp ráp, chứ không nên coi nó đơn giản chỉ là ngành thu thập ngẫu nhiên những linh kiện sản xuất không liên quan. Bên cạnh đó, ngành CNHT không chỉ sản xuất linh kiện mà quan trọng hơn CNHT còn thực hiện quá trình hỗ trợ việc sản xuất các bộ phận nhựa và kim loại trong một số ngành nhƣ ngành sản xuất mô tô, ô tô, sản xuất điện tử, đóng tàu… (xem hình 1.2) NGÀNH MÔ TÔ NGÀNH Ô TÔ NGÀNH ĐIỆN TỬ (ÂM THANH, TV, BÁN DẪN…) NGÀNH CÔNG NGÀNH ĐIỆN ( GIA DỤNG) NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH ĐÓNG TÀU Hình 1.2: Ngành CNHT trên cơ sở có thể cung cấp đầu vào chung cho các ngành lắp ráp Nguồn: Báo cáo điều tra xây dựng và tăng cường ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt nam - KYOSHIRO ICHIKAWA (Tư vấn Đầu tư Cao cấp,Cục Xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản tại Hà nội) Trong nhiều văn bản, ngƣời ta có thể sử dụng thuật ngữ công nghiệp phụ trợ thay thế cho CNHT, tuy nhiên trên thực tế, công nghiệp hỗ trợ hay công nghiệp phụ trợ đều có nguyên gốc tiếng Anh là supporting industry nên xét về bản chất công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp phụ trợ có ý nghĩa tƣơng đƣơng, do đó trong luận văn này, ta thống nhất sử dụng thuật ngữ “Công nghiệp hỗ trợ”. Đặc điểm của ngành Công nghiệp hỗ trợ 1.
Có hiệu quả tăng dần theo quy mô Hiệu quả tăng dần theo qui mô có nghĩa là nếu có một sự gia tăng đầu vào theo một tỉ lệ nào đó sẽ dẫn đến sự gia tăng đầu ra (sản lƣợng) với tỉ lệ cao hơn. Các ngành CNHT nhƣ tạo khuôn mẫu, gia công kim loại, ép nhựa cần nhiều vốn để đầu tƣ vào máy móc đắt tiền. Hơn nữa, những máy móc này lại không thể chia nhỏ đƣợc (tức là không thể mua từng phần máy móc đƣợc). Một khi đã đầu tƣ lắp đặt hệ 10 thống máy móc thì chi phí vốn cho nhà máy sẽ vẫn luôn ở một mức cố định cho dù hệ thống này đƣợc vận hành liên tục 24 giờ một ngày và 365 ngày một năm, hay chỉ vận hành trong một khoảng thời gian nhất định.
Do vậy, chi phí vốn đơn vị (tổng chi phí chia cho số sản phẩm sản xuất) sẽ tỷ lệ nghịch với lƣợng sản phẩm đầu ra. Vì vậy CNHT là một ngành có hiệu quả tăng dần theo quy mô và để một doanh nghiệp hỗ trợ có thể tồn tại thì phải sản xuất phải đạt đến một mức sản lƣợng nhất định. Ví dụ, một nhà máy sản xuất đƣợc 600.000 linh kiện nhựa một năm sẽ đạt đƣợc hiệu quả sản xuất, trong khi một nhà máy khác chỉ sản xuất 2000 linh kiện nhựa một năm thì khó mà tồn tại đƣợc. Hiệu quả tăng dần theo quy mô của việc sản xuất các sản phẩm hỗ trợ đƣợc thể hiện trong hình 1.3: Giảm chi phí đơn vị trong CNHT CNHT là ngành sử dụng nhiều vốn, ít công lao động, nên sẽ có chi phí đơn vị giảm dần theo quy mô sản lƣợng.
Lao động làm việc trong ngành CNHT thường đòi hỏi chuyên môn cao Lao động làm việc trong ngành CNHT đòi hỏi chuyên môn cao vì các ngành công nghiệp hỗ trợ thƣờng là các ngành công nghiệp sản xuất các chi tiết nhỏ, đòi hỏi có sự chính xác và tỉ mỉ cao. Nếu nhƣ các doanh nghiệp lắp ráp sử dụng nhiều nhân công không đòi hỏi trình độ cao để lắp ráp các bộ phận, thì lao động ở các doanh nghiệp CNHT phần lớn đòi hỏi có trình độ cao hơn, thƣờng là các nhà vận hành máy móc, kiểm soát viên về chất lƣợng sản phẩm, các kĩ thuật viên và các kĩ 11 sƣ.