Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO 1. Sự cần thiết khách quan phát triển công nghệ và công nghệ cao Công nghệ và phát triển công nghệ là những phạm trù mới được sử dụng nhiều trong những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, khi đất nước bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, ngược dòng lịch sử ngay từ những ngày đất nước đang thực hiện cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã hết sức quan tâm đến vấn đề này. Người đã khẳng định: “ Xây dựng kinh tế, phát triển nông nghiệp, công nghệ, thủ công nghệ, thương nghiệp, giao thông vận tải, để cải tiến kinh tế và tài chính của Nhà nước, cải thiện đời sống của nhân dân.
Vấn đề công nghệ và phát triển công nghệ cao trong điều kiện hiện nay có vai trò và ý nghiã đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia; nhất là sự phát triển như vũ bão của các thành tựu khoa học, công nghệ trên thế giới hiện nay. Đối với Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, tất yếu phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển CNC, mới có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Sự cần thiết khách quan của việc phát triển công nghệ cao không chỉ do xu thế phát triển tất yếu của thời đại, do sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới, xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa mà còn là yêu cầu tất yếu của xây dựng và phát triển nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước hết, về kinh tế muốn có một nền kinh tế phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng cao đời sống của nhân dân, không chỉ khai thác nguồn tài nguyên có sẵn, bởi nó đang ngày càng cạn kiệt mà đòi hỏi phải chế biến nó để có được nhiều của cải hơn, phải tìm ra nhiều đối tượng lao động mới chưa từng có trong tự nhiên; điều đó chỉ có thể có được bằng con đường phát triển công nghệ và công nghệ cao ở Việt Nam.
Hơn thế, với cơ sở vật chất hiện có ở Việt Nam, công cụ lao động thủ công, hầu hết các tư liệu lao động lạc hậu, năng suất lao động thấp, làm sao có thể cải biến được lực lượng tự nhiên, tạo ra hàng hóa với chi phí ít nhất để tham gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế. Do đó, điều cần phải thực hiện là phát triển công nghệ và công nghệ cao thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển là một tất yếu khách quan. Quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam là quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, nhằm cải biến nền sản xuất nhỏ lạc hậu, thành nền sản xuất lớn; từ nền sản xuất nông nghiệp thành nền sản xuất công nghiệp. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, tiếp tục khẳng định mục tiêu và tầm quan trọng của CNH, HĐH là: “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xuất phát từ tính tất yếu khách quan đó, ngày nay CNH phải gắn liền với HĐH, có như vậy mới phù hợp với quy luật phát triển của thời đại, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; một số nước có nền kinh tế phát triển đã chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức.
Vì vậy, đối với Việt Nam phải tranh thủ ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ trên thế giới, tiếp cận nhanh kinh tế tri thức, hiện đại hóa những ngành, những lĩnh vực có điều kiện nhảy vọt, có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: “Khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác, công nghiệp phần mềm và công nghiệp bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động; phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế, nâng cao hiệu quả của các khu công nghiệp, khu chế xuất” [10, 91] Chính vì lẽ đó, Đảng ta đã khẳng định tầm quan trọng của khoa học công nghệ trong sự nghiệp CNH, HĐH như sau: Khoa học công nghệ là động lực của CNH, cần kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những khâu quyết định. “Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển kinh tế tri thức. Việc phát triển khoa học công nghệ, phát triển công nghệ cao còn là đòi hỏi của việc xây dựng xã hội mới, xã hội phát triển toàn diện để phát triển con người, xây dựng xã hội mới xã hội công nghiệp, là cơ sở để củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội chính quy hiện đại để bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Phát triển công nghệ cao là đòn bẩy quan trọng của quá trình CNH, HĐH, nhanh chóng thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh bền vững, hòa nhập nền kinh tế thế giới. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phát triển công nghệ và công nghệ cao. Khái niệm về công nghệ và công nghệ cao Khái niệm về công nghệ Trong lịch sử khi bàn về công nghệ đã có nhiều định nghĩa khác nhau theo nhiều góc độ tiếp cận khác nhau.
Theo từ điển điện tử bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Công nghệ (có nguồn gốc từ technologia, hay τεχνολογια, trong tiếng Hy Lạp; techne có nghĩa là thủ công và logia có nghĩa là "châm ngôn"), là một thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ và mưu mẹo của con người. Tùy vào từng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệ có thể được hiểu: Công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề; Các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề; Các sản phẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau.” [34] Theo từ điển tiếng Việt điện tử thì công nghệ có nghĩa là: “Công là khéo léo, nghệ là nghề. Công nghệ là kỹ thuật sử dụng công cụ máy móc, trang bị để sản xuất những sản phẩm công nghiệp. Muốn đẩy mạnh sản xuất, phải cải tiến công nghệ” [12].Marchuc, Chủ tịch Việt Hàn lâm khoa học Liên Xô, khi bàn về cơ sở khoa học của công nghệ đã cho rằng: “Với nghĩa rộng, công nghệ là phương pháp chinh phục thế giới vật chất của con người thông qua các hoạt động có tổ chức.” [38, 31] Như vậy, có thể hiểu công nghệ là việc con người ứng dụng các tư liệu lao động cùng với những đối tượng lao động, cải biến các đối tượng lao động nhằm tạo ra nhiều của cải hơn cho xã hội.
Với tư cách là hoạt động của con người, công nghệ diễn ra trước khi có khoa học và kỹ nghệ. Nó thể hiện kiến thức của con người trong việc giải quyết các vấn đề thực tiễn để tạo ra các tư liệu lao động và đối tượng lao động. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong “Luật khoa học công nghệ” của Việt Nam, năm 2000 ở điều 2 ghi rõ: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kĩ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Còn ở điều 3, Luật chuyển giao công nghệ năm 2006 thì công nghệ được định nghĩa như sau: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết, kỹ thuật, có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
Ngoài ra, tùy theo cách tiếp cận mà các nhà khoa học đã đưa ra các khái niệm, định nghĩa về công nghệ theo nhiều góc độ khác nhau: Trong cuốn “Chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghệ” của viện nghiên cứu chiến lược chính sách khoa học và công nghệ, Công nghệ thường được dùng với 3 nghĩa sau: “Công nghệ như là một bộ môn khoa học ứng dụng nhằm vận dụng các quy luật tự nhiên và các nguyên lí khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Công nghệ như là các phương tiện kỹ thuật, là sự thể hiện vật chất hoá các tri thức ứng dụng. Công nghệ như là một tập hợp các cách thức, những phương pháp dựa trên cơ sở khoa học và được sử dụng vào sản xuất trong các ngành khác nhau, để tạo ra các sản phẩm vật chất .TS Phan Thanh Phố cho rằng “Công nghệ không chỉ là các phương tiện, thiết bị do con người sáng tạo ra mà còn là các bí quyết biến các nguồn lực sẵn có thành sản phẩm. Nguyễn Hữu Thảo khi tiếp cận công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam cho rằng: “Công nghệ không phải là thứ từ trên trời rơi xuống. Công nghệ có thể hiểu trên 4 nội dung: kỹ thuật, thông tin, con người và quản lý.
Nếu bạn thật sự quan tâm đến thúc đẩy tăng trưởng thì hai đòn bẩy 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan trọng chính là hình thành nguồn vốn nhân lực và công tác nghiên cứu ứng dụng” [30, 116]. Công nghệ cũng có thể hiểu dưới góc độ: Công nghệ - Technology: Là tổ hợp bao gồm thông tin, kiến thức, lao động -tay nghề, vật tư thiết bị, quản lý - tổ chức trong một quá trình gồm nhiều giai đoạn nhằm biến các tri thức khoa học, thành hàng hoá, dịch vụ có sức cạnh tranh trên thị trường. … Công nghệ là công cụ biến đổi nguồn lực bao gồm: phần kỹ thuật, phần con người, phần thông tin, phần tổ chức - quản lý thành sản phẩm.