Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT 1.1 Các khái niệm cơ bản Giống bò thịt Giống bò thịt hay bò lấy thịt, bò hướng thịt là những giống bò nhà được chăn nuôi chủ yếu phục vụ cho mục đích lấy thịt bò. Đây chủ yếu là những giống bò cao sản, được chăn nuôi theo kiểu tăng trọng thể hiện qua giai đoạn vỗ béo. Việc chọn các giống bò thịt được thực hiện công phu nhằm chọn ra những giống bò nhiều thịt, có khả năng chống chịu với bệnh tật, thích nghi tốt, và có khả năng lai tạo để cải tạo các đàn bò bản địa (Lê Viết Ly, 2009). Chăn nuôi bò thịt Chăn nuôi bò thịt hay còn gọi đơn giản là chăn bò, nuôi bò là việc thực hành chăn nuôi các giống bò nhà, chủ yếu là các giống bò thịt.
Chăn nuôi bò thịt là một bộ phận quan trọng trong ngành chăn nuôi vì tầm quan trọng của việc sản xuất thịt bò, việc chăn nuôi bò thịt cần được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, khoa học và đảm bảo kiểm soát chất lượng, đảm bảo đầu ra (Nguyễn Văn Chung, 2006). Chăn nuôi bò thịt và bò sữa có nhiều điểm tương đồng về quy trình, chọn giống, chăm sóc, chuồng trại, vệ sinh, phòng bệnh, thức ăn. tuy nhiên, chăn nuôi bò thịt chú trọng vào công đoạn vỗ béo, tăng trọng để cho thịt nhiều và chất lượng, trong khi đó chăn nuôi bò sữa chú trọng vào khâu chăm sóc, sinh sản và kỹ thuật vắt sữa để cho ra các sản phẩm sữa (Đinh Văn Cải, 2007). Phát triển chăn nuôi bò thịt Phát triển chăn nuôi bò thịt là sự tăng lên về mặt số lượng và chất lượng đàn bò với một cơ cấu hợp lý, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của mỗi địa phương, của từng vùng và từng quốc gia.
Phát triển chăn nuôi bò thịt luôn gắn liền với sự tiến bộ khoa học công nghệ trong chăn nuôi. Phát triển chăn nuôi bò thịt là phát triển theo hướng hàng hóa, chịu sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường. Phát triển chăn nuôi bò thịt là quá trình chuyển đổi dần từ chăn nuôi quy mô nhỏ, phân tán ở cấp nông hộ sang quy mô vừa và lớn (gia trại, trang trại). Trong đó, 5 phát triển theo hướng trang trại là con đường tất yếu để nâng cao năng suất, chất lượng và khối lượng sản phẩm hàng hóa hơn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời tăng tính liên kết và bền vững trong chuỗi giá trị của sản phẩm bò thịt.
Chăn nuôi trang trại tập trung là một trong những giải pháp nhằm kiểm soát được dịch bệnh, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nhất là tại khu vực nông thôn. Bò thịt giống địa phương Bò thịt giống địa phương là giống bò thịt mang đặc điểm riêng biệt chỉ có tại một địa phương, hoặc có nguồn gốc khởi phát từ một địa phương, một vùng địa lý nhất định, khác biệt với các giống bò khác về đặc điểm di truyền. Mỗi loài có hình thức đặc trưng đặc thù riêng biệt, chúng thường sống thành quần thể bầy đàn theo tiểu vùng khí hậu, theo đặc thù vùng miền mỗi địa phương, mỗi giống bò địa phương đều là sản phẩm thuần hóa theo đặc thù sinh kế của người dân, là sản phẩm chăn nuôi, là tư liệu sản xuất lao động kết hợp với lực lượng lao động tại mỗi địa phương để sản xuất và đem lại của cải phục vụ đời sống.2 Đặc điểm, vai trò và thị trường của sản phẩm bò thịt 1.1 Đặc điểm của chăn nuôi bò thịt - Bò thịt là loại động vật ăn cỏ có khả năng thích ứng được với các điều kiện đồng cỏ chăn thả khác nhau. Cỏ là nguồn thức ăn chính dùng trong chăn nuôi bò thịt, lượng cỏ thức ăn bò thịt sử dụng khá lớn.
Để phát huy được lợi thế so sánh của vùng trung du miền núi về phát triển chăn nuôi bò thịt, trong quy hoạch cần phải có giải pháp phù hợp khắc phục những đặc điểm hạn chế sự phát triển do ảnh hưởng nguồn thức ăn mang lại. [7] - Tổ chức sản xuất chăn nuôi bò thịt không nhất thiết yêu cầu những điều kiện kỹ thuật cao như bò sữa hoặc bò sinh sản, do đó có thể phát triển chăn nuôi bò thịt theo các phương thức chăn nuôi với quy mô chăn nuôi khác nhau tuỳ theo năng lực của loại hình sản xuất, tiềm năng phát triển chăn nuôi bò thịt phù hợp với đặc điểm tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội của vùng chăn nuôi. [7] - Sản phẩm trong chăn nuôi bò thịt Sản phẩm trong chăn nuôi bò thịt là trọng lượng thịt bò hơi thu được trong chu kỳ sản xuất (một năm), là trọng lượng thịt tăng do kết quả của quá trình chăm sóc 6 nuôi dưỡng. Trọng lượng thịt tăng trong chăn nuôi bò thịt gồm trọng lượng bê dưới 12 tháng tuổi, trọng lượng lớn lên của đàn từ 13 đến 24 tháng tuổi, trọng lượng thịt tăng của đàn bò tơ và bò loại thải vỗ béo.
Sản phẩm chính thu được trong chăn nuôi bò thịt ngoài lấy thịt còn được chuyển sang nuôi làm đàn giống sinh sản. [7] - Chăn nuôi bò thịt là ngành kinh tế sản xuất hàng hóa Thịt bò là một trong các loại thịt có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao, thịt bò là loại thực phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng và được sử dụng rộng khắp ở các quốc gia trên thế giới. Nhu cầu thịt bò phục vụ cho đời sống con người ngày càng lớn, là cơ sở cho các nước có điều kiện và tiềm năng phát triển chăn nuôi bò thịt, đưa chăn nuôi bò thịt thành ngành kinh tế sản xuất hàng hóa. - Vốn đầu tư cho chăn nuôi bò thịt lớn, thời gian thu hồi vốn chậm Vốn trong tổ chức sản xuất chăn nuôi bò thịt sử dụng cho việc xây dựng chuồng trại, mua con giống, cải tạo và trồng mới đồng cỏ, cùng các chi phí khác phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng.
Các đầu tư chi phí trên có giá trị lớn và không thể thu hồi ngay trong năm. Vốn đầu tư cho chăn nuôi bò thịt thu hồi chậm, thông thường thời gian có thu sản phẩm trong chăn nuôi bò thịt tính từ thời điểm bò cái mang thai đến thời điểm bê nuôi thịt được bán (từ 18 đến 24 tháng tuổi) trong khoảng từ 30 đến 36 tháng, nếu là bán bê giống mất khoảng 15 đến 18 tháng. Để phát triển chăn nuôi bò thịt Nhà nước cần có cơ chế chính sách tạo điều kiện cho hộ chăn nuôi tiếp cận các nguồn vốn tín dụng với các điệu kiện vay thuận lợi, lãi suất và thời gian vay phù hợp.2 Vai trò của chăn nuôi bò thịt Cung cấp thực phẩm Thịt bò là loại thịt đỏ có giá trị dinh dưỡng cao. Từ thịt bò người ta có thể chế biến nhiều món ăn ngon.
Chính vì vậy, trên thị trường thịt bò luôn đắt hơn thịt các loại gia súc khác và đắt hơn cả thịt gia cầm. Bò là những gia súc nhai lại có khả năng biến thức ăn rẻ tiền như cây cỏ, rơm rạ thành hàng trăm thành phần khác nhau của thịt và sữa. Mức sống càng được cải thiện thì nhu cầu của con người về thịt và sữa bò càng tăng lên. [5] 7 Chăn nuôi bò thịt cung cấp phân bón và chất đốt Phân trâu bò là loại phân hữu cơ có khối lượng đáng kể.
Mặc dù chất lượng không cao như phân lợn, nhưng nhờ có khối lượng lớn phân bò đã đáp ứng một phần rất lớn nhu cầu phân hữu cơ cho nền nông nghiệp hữu cơ. Do vậy, nhiều địa phương người dân nuôi bò với mục đích lấy phân là chính. Ngoài việc dùng làm phân bón, trên Thế giới phân bò còn được dùng làm chất đốt. Tại một số nước Tây Nam Á như Ẩn Độ, Pakistan, phân được trộn với rơm băm, nắm thành bánh và phơi nắng khô, dự trữ và sử dụng làm chất đốt quanh năm.[5] Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và thủ công mỹ nghệ Da bò là một mặt hàng rất quan trọng để xuất khẩu cũng như để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp địa phương.
Da bò là nguồn nguyên liệu chủ yếu cho các nhà máy thuộc da. Da bò có thể dùng làm áo da, găng tay, bao súng, dây lưng, giày, dép, cặp. Da có giá trị khi bộ da đó có trọng lượng lớn và kích thước to (dày, rộng, dài), đại lượng của chỉ số trên không những phụ thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng mà còn phụ thuộc vào giống, giới tính, tuổi và các yếu tố khác. Sừng được gia công và chế biến để làm ra các mặt hàng mỹ nghệ tinh xảo như một số đồ trang sức hoặc lược, giá gương… Ở nhiều vùng nông thôn người ta còn dùng da bò làm thực phẩm.
Nhờ độ dày, sức bền và khả năng uốn mềm của nó mà lông bò thích hợp cho việc sản xuất bàn chải mỹ nghệ và lau chùi một số máy móc quang học.[5] Chăn nuôi bò thịt tận dụng được nguồn thức ăn sẵn có Nguồn thức ăn chủ yếu của bò thịt là cỏ tươi ngoài bải chăn thả, cỏ khô, rơm rạ và một vài thức ăn thô xanh khác: Ngọn mía, thân cây ngô, thân lá đậu các loại… Ngoài ra còn bã mía, rỉ mật, khô dầu… Thông qua thức ăn phong phú rẻ tiền này sẽ cho ra một lượng chất hữu cơ quý giá đáng kể và năng lượng khổng lồ cung cấp cho con người mà không phải đầu tư cao. Do vậy trong điều kiện kinh tế còn khó khăn việc phát triển chăn nuôi bò sẽ tận dụng tốt nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương, đem lại nguồn lợi kinh tế và nâng cao thu nhập cho hộ chăn nuôi.3 Thị trường của sản phẩm bò thịt Hiện tại, thị trường sản phẩm bò thịt nước ta chưa phát triển, các doanh nghiệp chưa hình thành chuỗi giá trị bò thịt từ chăn nuôi, giết mổ, chế biến và phân phối. 8 Một số doanh nghiệp có giết mổ công nghiệp nhưng chưa đầu tư hệ thống kho mát và kho đông lạnh để bảo quản sản phẩm mà chủ yếu xuất bán thịt bò tươi ở thị trường trong nước nên khó đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn về thịt bò xuất khẩu chính ngạch. Các sản phẩm từ chăn nuôi bò thịt thường phải bán hàng qua kênh trung gian là các thương lái.[9] Để phát triển thị trường bò thịt, các doanh nghiệp cần lưu ý nuôi bò sinh sản để từng bước chuẩn bị bò thịt vỗ béo.
Đồng thời trồng cỏ, ngô đi kèm với công nghệ chế biến và các phụ phẩm làm thức ăn cho bò.