phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu. Đặc điểm địa bàn và phƣơng pháp nghiên cứu. Thực trạng liên kết trong phát triển cây dƣợc liệu cho Công ty cổ phần Traphaco tại huyện Văn Lâm tỉnh Hƣng Yên và huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định Chƣơng 4.
Một số giải pháp giúp thúc đẩy liên kết trong phát triển cây dƣợc liệu cho Công ty cổ phần Traphaco 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Ở Việt Nam, vấn đề liên kết sản xuất - kinh doanh dƣợc liệu giữa doanh nghiệp, Nhà khoa học, Nhà nông và Nhà nƣớc vẫn là vấn đề bức xúc, nhất là khi quá trình hội nhập kinh tế đòi hỏi phải tổ chức lại cơ bản nền sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu để đồng thời thỏa mãn yêu cầu về số lƣợng và chất lƣợng của ngƣời tiêu dùng. Ngoài ra, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở các vùng nông thôn ven các thành phố lại đặt cho ngành dƣợc liệu ven đô nhiều thách thức lớn. Từ đó, hình thành nhu cầu phát triển dƣợc liệu với những đặc thù riêng biệt, khác với các vùng nông nghiệp truyền thống, phát triển dƣợc liệu không chỉ thỏa mãn nhu cầu chữa bệnh, thực phẩm chức năng mà còn là nhu cầu làm đẹp, chăm sóc sức khỏe từ những sản phẩm chế biến từ dƣợc liệu thiên nhiên ở trong nƣớc của mọi tầng lớp ngƣời dân.
Nông dân ngày nay, đặc biệt là nông dân các vùng có tiềm năng lợi thế về phát triển dƣợc liệu không phải chỉ sản xuất dƣợc liệu phục vụ tiêu dùng của hộ mà chủ yếu là hàng hóa. Đặc điểm sản xuất hàng hóa nảy sinh một số yêu cầu lớn: - Sản xuất hàng hóa đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao hơn để giảm chi phí sản xuất, do vậy họ bắt buộc phải có các liên kết với các tổ chức cung cấp dịch vụ đầu vào cũng nhƣ đầu ra trong sản xuất (các tổ chức cung cấp vốn; các đơn vị cung ứng vật tƣ sản xuất; các đơn vị chịu trách nhiệm xây dựng chỉ dẫn địa lý, xuất xứ hàng hóa cho sản phẩm và kiểm soát chất lƣợng dƣợc liệu; các hệ thống kho chứa điều tiết hàng hóa, các đơn vị vận chuyển, giao hàng.) đặc biệt là các tổ chức giúp giải quyết các mối quan hệ với bên ngoài nhƣ tiếp xúc với thị trƣờng, tiếp thị, quảng bá… Tổ chức nông dân sẽ giúp các hộ dễ dàng tiếp cận với các nguồn vốn vay. - Nhu cầu về sử dụng các sản phẩm đƣợc chế biến từ dƣợc liệu tự nhiên của ngƣời dân ở trong nƣớc và phục vụ xuất khẩu đang là vấn đề cấp bách, “cung không đủ cầu” đây chính là thị trƣờng tiêu thụ rộng lớn và đều đặn trong tƣơng lai. Tuy nhiên, để tiếp cận đƣợc thị trƣờng này, ngƣời dân phải liên kết với các doanh 8 nghiệp, các nhà khoa học và Nhà nƣớc để nâng cao chất lƣợng dƣợc liệu nhằm và khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế.
Trên thế giới, cụ thể là ở hầu hết các nƣớc đang phát triển, 70-95% dân số sử dụng thuốc cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, đặc biệt là các quốc gia Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh và Trung Đông. Ở nhiều nƣớc phát triển nhƣ Canada, Pháp, Đức, Ý, sử dụng thuốc cổ truyền cũng tăng đáng kể, 70-90% dân số sử dụng các sản phẩm thảo dƣợc dƣới các tiêu đề “thực phẩm bổ sung”, “sản phẩm thay thế” hay “sản phẩm không thông thƣờng”. Điều này dẫn đến các đơn vị quản lý, sản xuất - kinh doanh phải tăng cƣờng các hoạt động nghiên cứu, kiểm soát, kinh doanh, tiếp thị các sản phẩm thuốc y học cổ truyền ở cấp quốc tế. WHO đã công bố nhiều văn bản về nhận thức vai trò của thuốc YHCT và phát triển thuốc từ thảo dƣợc nhƣ: + WHO và UNICEF đã thông qua Tuyên bố Alma-Ata năm 1978; + Đã đƣa ra bản hƣớng dẫn thực hành thu hái và trồng trọt cây thuốc tốt (GACP) năm 2003; + Đã thông qua bản “Chiến lƣợc toàn cầu và kế hoạch hành động vì sức khoẻ cộng đồng, phát minh và sở hữu trí tuệ” (24/05/2008); + Đã đƣa ra Tuyên bố Bắc Kinh (08/11/2008); + Đã mở nhiều hội thảo về Thuốc dân tộc (2009).
Rõ ràng, chính sách phát triển thuốc Y học cổ truyền của WHO, trong đó có dƣợc liệu, đòi hỏi sự tham gia đầy đủ của nhiều ban ngành, đơn vị từ Nhà quản lý đến ngƣời dân, từ Nhà khoa học đến Doanh nghiệp. WHO không đƣa ra mô hình nhất định để phát triển dƣợc liệu ở các quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, một số văn phòng của WHO tại địa phƣơng ở Châu Phi, Trung Đông và Đông Nam Á cũng đã đƣa ra các hƣớng dẫn phù hợp với địa phƣơng về qui định, đăng ký thuốc cổ truyền cũng nhƣ các đề xuất về tiêu chuẩn tiếp thị (WHO, 2011). Tại Châu Á, có những mô hình phát triển các sản phẩm trong đó Nhà nƣớc là ngƣời đóng vai trò chủ chốt.
Kinh nghiệm của các nƣớc lân cận nhƣ Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc. cho thấy việc xây dựng chiến lƣợc quy hoạch phát triển dƣợc 9 liệu tại các vùng có tiềm năng lợi thế trên vùng lãnh thổ đƣợc triển khai mạnh mẽ. Việc này đƣợc triển khai cụ thể từ khâu tuyên truyền, quảng bá đến đầu tƣ về khoa học - kỹ thuật và tài chính cho phát triển. Vấn đề này đƣợc thực hiện đồng bộ giữa các cấp các ngành ở các địa phƣơng, nhất là trong việc phối hợp xây dựng các phƣơng án phát triển mang tính đặc thù của mỗi địa phƣơng dựa trên chiến lƣợc, quy hoạch tổng thể chung của vùng lãnh thổ (WHO, 2011).
Do vậy, việc xây dựng mô hình liên kết phát triển phù hợp với từng địa phƣơng, từng vùng của mỗi quốc gia là vấn đề đƣợc các nƣớc trên thế giới trong đó có Việt Nam đƣợc quan tâm và nghiên cứu. Tại Việt Nam, nhận thức đƣợc tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát triển dƣợc liệu đối với công tác chăm sóc sức khỏe và chữa trị bệnh tật cũng nhƣ phát triển kinh tế đất nƣớc, ngay từ thời kỳ chiến tranh, Nhà nƣớc đã ban hành nhiều văn bản về phát triển dƣợc liệu. Trƣớc yêu cầu hội nhập và phát triển của đất nƣớc ngày nay, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về số lƣợng và chất lƣợng của nguồn nguyên liệu làm thuốc ở Việt Nam, Trong giai đoạn từ 2000 đến nay, Nhà nƣớc nhận thấy rõ vai trò của y dƣợc học cổ truyền và công tác phát triển dƣợc liệu đối với phát triển kinh tế. Từ đó, Nhà nƣớc và các Bộ ngành đã đƣa ra các Nghị quyết, quyết định chú trọng đến công tác dƣợc liệu nhƣ: Quyết định 108/2002/QĐ-TTg về phê duyệt chiến lƣợc phát triển ngành Dƣợc giai đoạn đến năm 2010, Quyết định 222/2003/QĐ- TTg về phê duyệt chính sách quốc gia về Y dƣợc học cổ truyền, Quyết định 765/2005/QĐ-BYT về phê duyệt kế hoạch thực hiện chính sách quốc gia về Y dƣợc học cổ truyền; Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020.
Tuy nhiên, thực tế việc hợp tác, liên kết giữa nghiên cứu còn rời rạc, phát triển, sản xuất, thị trƣờng tiêu thụ dƣợc liệu, thiếu tổ chức. Mặt khác, những kết quả đạt đƣợc trong khảo sát, nghiên cứu về dƣợc liệu của các cấp, các ngành từ trung ƣơng đến địa phƣơng trong những năm qua còn khiêm tốn, các giải pháp đƣa ra 10 chƣa phù hợp với thực tế dẫn tới khi tiến hành ứng dụng, dụng triển khai trong thực tế chƣa đem lại hiệu quả, còn nhiều thiếu sót hạn chế. Gần đây, để khắc phục những tồn tại này, trong công trình nghiên cứu của (Trần Ngọc Ca, cùng các cộng sự, 2013) thuộc Hội đồng Chính sách khoa học và công nghệ quốc gia với đề tài “phân tích và đề xuất một số giải pháp chính sách về liên kết 4 nhà (nhà nƣớc, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp) trong phát triển dƣợc liệu ở Việt Nam” đã đề cập cụ thể hơn về cơ chế, chính sách dành cho “các nhà” khi tham gia liên kết, trong đó nhấn mạnh việc Nhà nƣớc phải đứng vai trò chủ đạo trong liên kết này, đồng thời đƣa ra các chính sách cho “các nhà” phù hợp với thực tế ở từng địa phƣơng. Tiếp theo, ngày 30/10/2013, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1976/QĐ-TTg về việc “Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dƣợc liệu đến năm 2020 và định hƣớng đến năm 2030”.
Mặc dù các chính phủ của các nƣớc trên thế giới trong đó có Việt Nam đã có nhiều chủ trƣơng trong việc phát triển dƣợc liệu, nhƣng trong những năm qua những công trình nghiên cứu về chủ đề này trên thế giới và Việt Nam cũng còn ít, chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu một cách bài bản và có hệ thống. Tuy nhiên, có thể thấy trong những năm qua, đã có một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về chủ đề này nhƣ: Nghiên cứu của Chengzi (2013), Tăng cƣờng mối quan hệ nông dân và doanh nghiệp trong phát triển dƣợc liệu ở Trung Quốc hiện nay, Tạp chí cây thuốc số 121. Tác giả đã chỉ ra đƣợc tiềm năng, lợi thế của Trung Quốc trong phát triển dƣợc liệu ở tất cả các vùng trên đất nƣớc, đặc biệt là nếu tăng cƣờng sự liên kết chặt chẽ giữa các bên tham gia thì tiềm năng dƣợc liệu của Trung Quốc có thể trở thành mặt hàng xuất khẩu chính đứng sau các sản phẩm rau, quả trong hệ thống các sản phẩm nông nghiệp chủ đạo. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã khái quát thực trạng phát triển dƣợc liệu tại Trung Quốc từ những năm 80 của thế kỷ 20 cho đến nay và mối quan hệ hợp tác giữa ngƣời nông dân với doanh nghiệp trong phát triển dƣợc liệu tại Trung Quốc.
Tác giả chỉ ra những khó khăn thách thức của quá trình hợp tác giữa nông dân và doanh nghiệp trong từng giai đoạn là những cam kết về cung cấp giống 11 và tiêu thụ dƣợc liệu giữa ngƣời dân và doanh nghiệp chƣa chặt chẽ. Mặt khác, do yêu cầu của doanh nghiệp đối với chất lƣợng dƣợc liệu đòi hỏi cao hơn so với thực tiễn khiến cho mối quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp bị rạn nứt.