Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Phong, với đề tài "Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp tại tỉnh Nam Định", thuộc chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số 9 31 01 05), được thực hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Phượng Lê (năm 2022).
Về tính cấp thiết, phát triển nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực và giảm nghèo (World Bank, 2016; Phạm Minh Chính, 2022). Hiệu quả của nông nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào thể chế và tổ chức kinh tế nông nghiệp (North & Thomas, 1976; OECD, 2015). Nam Định là một trong hai tỉnh đầu tiên của Việt Nam hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới cấp tỉnh (Đoàn Hồng Phong, 2019). Đến cuối năm 2020, toàn tỉnh đã hình thành 366 trang trại, 388 hợp tác xã (HTX) nông nghiệp, 104 doanh nghiệp nông nghiệp và 32 chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm chủ lực. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp của địa phương vẫn mang nặng tính tiểu nông: số lượng hộ nông dân chiếm tới 99,8% tổng số đơn vị sản xuất nông nghiệp và tốc độ giảm rất chậm (bình quân giai đoạn 2016 - 2020 chỉ giảm 0,03%/năm theo số liệu của Hội Nông dân tỉnh Nam Định, 2021). Các hợp tác xã chủ yếu mới dừng lại ở bước chuyển đổi hình thức từ kiểu cũ sang kiểu mới; số lượng doanh nghiệp nông nghiệp phát triển chậm, quy mô nhỏ; cơ chế liên kết chuỗi giá trị còn lỏng lẻo.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Các công trình trước đây tại Việt Nam thường nghiên cứu riêng rẽ từng hình thức tổ chức (như sinh kế nông hộ, chuyển dịch lao động, chuyển đổi HTX hoặc liên kết song phương giữa doanh nghiệp và nông dân), hoặc thực hiện tại các vùng sinh thái khác (như Tây Nguyên). Chưa có công trình nào đánh giá đồng thời, toàn diện và có hệ thống cả 4 hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chính cùng mối quan hệ liên kết giữa các chủ thể này trên địa bàn tỉnh Nam Định.
Mục tiêu chung của luận án: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp tại tỉnh Nam Định, đề xuất hệ thống giải pháp phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu.
Mục tiêu cụ thể được xác định gồm 3 nội dung:
- Hệ thống hóa và bổ sung làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp;
- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp tại tỉnh Nam Định;
- Đề xuất các giải pháp phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu.
Luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp tại Nam Định hiện nay như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp?
- Cần có giải pháp gì để phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định. Đối tượng khảo sát gồm các cơ sở sản xuất nông nghiệp (hộ nông dân, trang trại, HTX, doanh nghiệp nông nghiệp) và cán bộ quản lý nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp xã.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 4 loại hình tổ chức trực tiếp có hoạt động sản xuất nông nghiệp gắn với các nông sản chủ lực (hộ nông dân, trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp) và các mô hình liên kết kinh tế; không nghiên cứu sâu các tổ chức chỉ thuần túy làm dịch vụ cung ứng vật tư, chế biến hoặc thương mại không có hoạt động sản xuất. Tổ hợp tác không được chọn làm đối tượng nghiên cứu trọng tâm do chiếm tỷ lệ rất thấp tại Nam Định.
- Phạm vi không gian: Thực hiện trên địa bàn tỉnh Nam Định, khảo sát sâu tại 3 huyện đại diện cho 3 tiểu vùng sinh thái - kinh tế: huyện Hải Hậu (vùng ven biển, trồng cây dược liệu, nuôi trồng thủy sản), huyện Nam Trực (vùng đất trung tâm, chuyên canh lúa) và huyện Mỹ Lộc (vùng ven đô thị, chuyên canh rau màu).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập giai đoạn 2016 - 2020; số liệu sơ cấp thu thập qua các cuộc khảo sát thực địa trong các năm 2019, 2020 và 2021; thời gian đề xuất giải pháp định hướng đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo từng tuyến chủ đề gắn liền với các chủ thể tổ chức sản xuất nông nghiệp:
Về bản chất và cơ cấu tổ chức sản xuất nông nghiệp: Zuhui Huang & Qiao Liang (2017, 2018) chỉ ra cấu trúc quản trị, quyền sở hữu tài sản và phân phối thu nhập giữa các mô hình tổ chức nông nghiệp; Eswaran & Kotwal (1985) và Huang (2008) phân tích sự phối hợp dọc và tích hợp chuỗi cung ứng; Chlebicka (2015) nghiên cứu việc áp dụng thể chế nội bộ trong các tổ chức nông nghiệp; Đỗ Kim Chung (2021) phân loại các tổ chức kinh tế nông nghiệp theo mục tiêu sản xuất, cách thức tổ chức nguồn lực và mức độ tham gia vào chuỗi giá trị; Phạm Vân Đình (2008) phân tích ba mô hình tổ chức kinh tế chủ yếu ở Việt Nam (thị trường tự do, chỉ huy và hỗn hợp).
Về phát triển kinh tế hộ: Các công trình của Trần Tiến Khai (2007), Hồ Cao Việt (2008), Mai Thị Thanh Xuân & Đặng Thị Thu Hiền (2013), Lê Đình Hải (2017), Hồ Quế Hậu (2019) khẳng định vai trò kinh tế tự chủ của nông hộ tại Việt Nam sau Nghị quyết 10 năm 1988. Trên bình diện lý thuyết quốc tế, luận án điểm lại các quan điểm kinh điển của Chayanov (1926), Ellis (1988), Frank E., Nerlove (1996), Garoyan (1983), Banaszak (2004, 2010), Reardon & cộng sự (2009), cùng các học giả Việt Nam như Lê Đình Thắng (1993), Đào Thế Tuấn (1997), Đặng Kim Khôi & Trần Công Thắng (2019) về đặc điểm nông hộ sử dụng chủ yếu lao động gia đình và tham gia thị trường không hoàn hảo.
Về kinh tế trang trại: Lê Anh (2017), Ngô Xuân Toản & Đỗ Thị Thanh Vinh (2014), Nguyễn Bá Long & Trần Thu Hà (2019), Nguyễn Mạnh Hưng & cộng sự (2021), Nguyễn Thị Tâm & cộng sự chỉ rõ trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn, hướng đến tối đa hóa lợi nhuận và thị trường hóa sâu sắc hơn so với nông hộ, tuy nhiên đang gặp vướng mắc lớn về hạn điền và quản lý đất đai sau dồn điền đổi thửa.
Về hợp tác xã nông nghiệp: Nguyễn Minh Ngọc & cộng sự (2012), Lê Bảo (2014), Vũ Văn Khải / Vũ Trọng Khải (2015), Chu Thị Hảo & cộng sự (2006), Nguyễn Thị Như Tâm (2018), Đỗ Kim Chung (2021) phân tích sự phát triển của HTX nông nghiệp từ mô hình tập trung thời kỳ trước đổi mới sang tổ chức kinh tế hợp tác tự chủ theo Luật Hợp tác xã năm 2012, nhấn mạnh vai trò liên kết nông dân nhỏ nhưng đồng thời chỉ rõ nhiều khó khăn về vốn, bộ máy và tính liên kết dịch vụ.
Về doanh nghiệp nông nghiệp: Báo cáo OECD (2015), Nguyễn Phượng Lê & Nguyễn Mậu Dũng (2021), Nguyễn Thị Bích Diệp (2019), Phan Thị Thanh Huyền (2020), Phạm Việt Dũng (2016, 2021) phân tích thực trạng số lượng doanh nghiệp đầu tư trực tiếp vào sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam còn rất khiêm tốn, quy mô vốn và đất đai nhỏ, đối mặt nhiều rủi ro thiên tai, dịch bệnh và tỷ suất sinh lời thấp.
Về liên kết kinh tế và nông nghiệp công nghệ cao: Key & Runsten (1999), Lê Xuân Bá (2003), Hồ Quế Hậu (2008), Dương Đình Giám (2007), Phạm Thị Minh Nguyệt (2006), Lê Quang Trung (2010), Trần Minh Vĩnh & Phạm Vân Đình (2014), Đàm Quang Thắng & Phạm Thị Mỹ Dung (2019), Lê Thị Minh Châu & cộng sự (2016), Trần Quang Trung & cộng sự, Hồ Thanh Thủy (2017) phân tích các hình thức liên kết ngang và liên kết dọc theo chuỗi giá trị nông sản. Đối với ứng dụng công nghệ, luận án điểm cứu các nghiên cứu của Bonzovanni & Lowenberg-Deboer (2004), Silva & cộng sự (2017), Mondal & Basu (2009), Hallam (2011), Murakami & cộng sự (2007), Tey & Brindal (2012), Singh & cộng sự (2010), Đỗ Kim Chung (2018), Trần Thị Thanh Thủy (2020), Nguyễn Văn Phượng (2017), Lê Linh (2020).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu đã công bố chỉ tiếp cận đơn lẻ một hình thức tổ chức sản xuất nhất định hoặc xem xét quan hệ song phương (doanh nghiệp - hộ dân, HTX - hộ dân) tại các địa phương khác (như nghiên cứu của Nguyễn Phượng Lê & cộng sự, 2018 tại Tây Nguyên). Luận án của Nguyễn Thanh Phong tập trung lấp khoảng trống này bằng cách đặt cả 4 hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp trong mối quan hệ so sánh tương quan và mạng lưới liên kết tại tỉnh Nam Định - địa phương đại diện cho vùng đồng bằng sông Hồng có mật độ dân số cao và đất đai manh mún.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án tiếp thu các khái niệm phát triển của Raanan Weitz (1986), Mai Thanh Cúc & Quyền Đình Hà (2005), Đỗ Kim Chung (2009), Phan Anh Hồng (2009), Lê Quốc Lý (2016). Tổ chức sản xuất nông nghiệp được định nghĩa là sự kết hợp các yếu tố sức lao động và tư liệu sản xuất theo một tỷ lệ kinh tế - kỹ thuật nhất định nhằm thực hiện chu kỳ kinh doanh từ đầu vào đến đầu ra (Nguyễn Ngọc Long & cộng sự; Đỗ Kim Chung & cộng sự, 2015). Cơ sở pháp lý cho các hình thức tổ chức sản xuất được chuẩn hóa theo hệ thống văn bản: Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988); Luật Đất đai (1993, 2003); Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT và Thông tư 02/2020/TT-BNNPTNT về tiêu chí trang trại; Luật Hợp tác xã (1996, 2003, 2012); Luật Doanh nghiệp (2001, 2020); Luật sửa đổi, bổ sung 9 Luật số 03/2022/QH15; các chính sách thúc đẩy liên kết như Quyết định 80/2002/QĐ-TTg, Quyết định 62/2013/QĐ-TTg và Nghị định 98/2018/NĐ-CP.
Khung phân tích của luận án xem xét phát triển tổ chức sản xuất nông nghiệp trên cả hai chiều: chiều rộng (tăng số lượng, mở rộng quy mô diện tích, vốn, lao động) và chiều sâu (ứng dụng công nghệ, hoàn thiện quy trình, đẩy mạnh liên kết dọc/ngang, gia tăng kết quả và hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường). Quá trình này chịu sự tác động đồng thời của 4 nhóm yếu tố: chính sách của Nhà nước; đầu tư công và dịch vụ công; năng lực nội tại của các tổ chức kinh tế; yếu tố thị trường nông sản.
Luận án vận dụng 4 phương pháp tiếp cận:
- Tiếp cận hệ thống;
- Tiếp cận hai khu vực kinh tế;
- Tiếp cận theo loại hình tổ chức kinh tế;
- Tiếp cận theo vùng sản xuất.
Về phương pháp thu thập dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập giai đoạn 2016 - 2020 từ Niên giám thống kê tỉnh Nam Định, báo cáo tổng kết của Bộ Nông nghiệp & PTNT, Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Nam Định, Cục Thống kê, Liên minh HTX và UBND các huyện nghiên cứu.
- Dữ liệu sơ cấp: Được thu thập trong giai đoạn 2019 - 2021 qua điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc kết hợp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung.
Cơ cấu mẫu khảo sát sơ cấp bằng bảng hỏi được phân bổ cụ thể:
| STT |
Đối tượng khảo sát |
Số lượng mẫu (đơn vị) |
Địa bàn khảo sát |
| 1 |
Hộ nông dân |
300 |
Các xã thuộc 3 huyện Hải Hậu, Nam Trực, Mỹ Lộc |
| 2 |
Trang trại nông nghiệp |
90 |
Các huyện nghiên cứu |
| 3 |
Hợp tác xã nông nghiệp |
80 |
Các huyện nghiên cứu |
| 4 |
Doanh nghiệp nông nghiệp |
22 |
Toàn tỉnh Nam Định (tập trung 3 huyện) |
| Tổng |
Tổng số cơ sở sản xuất |
492 |
Địa bàn tỉnh Nam Định |
Ngoài ra, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu đối với cán bộ, chuyên viên thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT, Liên minh Hợp tác xã tỉnh, Trung tâm Khuyến nông, lãnh đạo và cán bộ các phòng ban chuyên môn của UBND 3 huyện đại diện, đồng thời tổ chức các cuộc thảo luận nhóm để kiểm chứng thông tin thực địa.
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tốc độ tăng trưởng) và thống kê so sánh (giữa các loại hình, giữa nhóm có liên kết và không liên kết) để làm rõ thực trạng tổ chức sản xuất. Bên cạnh đó, luận án sử dụng mô hình phân tích định lượng để xác định các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng tham gia liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở khoa học về phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp
Chương này trình bày chi tiết ba nội dung cơ bản:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến bản chất của tổ chức sản xuất nông nghiệp, quá trình tiến hóa của kinh tế hộ, kinh tế trang trại, kinh tế tập thể / HTX và doanh nghiệp nông nghiệp; các nghiên cứu về chuỗi giá trị và liên kết kinh tế giữa các chủ thể.
- Cơ sở lý luận về phát triển tổ chức sản xuất nông nghiệp: Phân tích khái niệm phát triển kinh tế và bản chất tổ chức sản xuất; xác định vai trò của các hình thức tổ chức đối với hộ gia đình, cộng đồng và tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo lý thuyết lợi thế kinh tế nhờ quy mô; xác định 5 nội dung nghiên cứu phát triển tổ chức sản xuất gồm: (1) Số lượng và phương hướng sản xuất; (2) Quy mô về đất đai, lao động, vốn, tài sản; (3) Công nghệ và quy trình sản xuất (nông nghiệp công nghệ cao, VietGAP); (4) Liên kết tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị; (5) Kết quả và hiệu quả hoạt động (kinh tế, xã hội, môi trường). Xác lập 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng gồm thể chế chính sách, đầu tư công - dịch vụ công, năng lực của các tổ chức và yếu tố thị trường.
- Cơ sở thực tiễn: Đúc kết kinh nghiệm quốc tế và kinh nghiệm từ các địa phương trong nước về tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Nam Định về quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung, cơ chế liên kết chuỗi và nâng cao năng lực chủ thể.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương 2 tập trung trình bày:
- Bốn phương pháp tiếp cận chủ đạo: tiếp cận hệ thống, tiếp cận hai khu vực kinh tế, tiếp cận theo loại hình tổ chức kinh tế và tiếp cận theo vùng sản xuất; sơ đồ khung phân tích phản ánh mối quan hệ giữa nguồn lực, hành vi tổ chức sản xuất, các yếu tố tác động và kết quả đầu ra.
- Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: Phân tích vị trí địa lý, hiện trạng sử dụng đất năm 2020, điều kiện dân số, mật độ dân cư và kết quả phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định giai đoạn 2016 - 2020.
- Căn cứ lựa chọn điểm nghiên cứu: Chọn 3 huyện đại diện dựa trên tính chất sinh thái và ngành hàng sản xuất chủ lực: huyện Hải Hậu (vùng sinh thái ven biển, phát triển nuôi trồng thủy sản và cây dược liệu), huyện Nam Trực (vùng đất trung tâm, trọng điểm thâm canh lúa) và huyện Mỹ Lộc (vùng ven thành phố Nam Định, tập trung sản xuất rau màu và thực phẩm tươi sống).
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp: Thiết kế bảng hỏi điều tra 492 mẫu định lượng (300 hộ, 90 trang trại, 80 HTX, 22 doanh nghiệp) và kế hoạch phỏng vấn sâu cán bộ quản lý cấp tỉnh, huyện.
- Phương pháp phân tích dữ liệu và hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu: Định nghĩa các chỉ tiêu phản ánh quy mô (diện tích đất bình quân, lao động bình quân, vốn bình quân), chỉ tiêu kết quả sản xuất (năng suất, sản lượng, doanh thu, lợi nhuận) và chỉ tiêu hiệu quả kinh tế (doanh thu/chi phí, lợi nhuận/vốn, thu nhập bình quân của người lao động).
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 là phần trọng tâm của luận án, trình bày thực trạng, phân tích yếu tố tác động và hệ thống giải pháp:
1. Thực trạng phát triển các hình thức tổ chức sản xuất tại Nam Định:
- Về số lượng: Kinh tế hộ vẫn là lực lượng áp đảo tuyệt đối. Tính đến năm 2020, toàn tỉnh có 366 trang trại, 388 HTX nông nghiệp, 104 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, cùng 32 chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ nông sản. Số hộ nông dân chiếm 99,8% tổng số đơn vị sản xuất, với tốc độ giảm rất chậm (0,03%/năm giai đoạn 2016 - 2020).
Số lượng các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp tỉnh Nam Định đến năm 2020 được tổng hợp trong bảng sau:
| STT |
Loại hình tổ chức sản xuất |
Số lượng năm 2020 (đơn vị) |
Tỷ lệ trong tổng số cơ sở sản xuất (%) |
| 1 |
Hộ nông dân |
Chiếm tuyệt đối |
99,80% |
| 2 |
Trang trại |
366 |
< 0,10% |
| 3 |
Hợp tác xã nông nghiệp |
388 |
< 0,10% |
| 4 |
Doanh nghiệp nông nghiệp |
104 |
< 0,05% |
| 5 |
Chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ |
32 |
— |
- Về phương hướng sản xuất: Tỉnh đã hình thành các vùng chuyên canh hàng hóa như cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa chất lượng cao, vùng nuôi trồng thủy sản nước lợ và mặn tại Hải Hậu, vùng chuyên canh rau màu an toàn tại Mỹ Lộc, và vùng trồng cây dược liệu.
- Về quy mô nguồn lực:
- Đất đai: Quy mô đất đai của nông hộ rất manh mún, bình quân diện tích nhỏ và phân tán trên nhiều thửa ruộng. Quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất đã xuất hiện thông qua hình thức thuê gom, mượn đất nhưng chưa phổ biến; các trang trại có diện tích tập trung tương đối lớn hơn nhưng gặp trở ngại pháp lý về thời hạn thuê đất.
- Lao động: Xu hướng chuyển dịch lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ làm suy giảm số lượng lao động trực tiếp trong nông hộ. Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong các tổ chức sản xuất nông nghiệp còn thấp, chủ yếu làm việc dựa trên kinh nghiệm.
- Vốn: Vốn bình quân của hộ và trang trại ở mức khiêm tốn. Đa phần các cơ sở gặp khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng do thiếu tài sản thế chấp hợp pháp trên đất nông nghiệp.
- Về công nghệ và quy trình sản xuất: Đã có sự chuyển biến trong áp dụng quy trình sản xuất an toàn (VietGAP) ở một số trang trại và HTX. Tuy nhiên, mức độ áp dụng cơ giới hóa đồng bộ và công nghệ cao chỉ tập trung ở một số ít doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn; phần lớn nông hộ vẫn duy trì tập quán canh tác truyền thống.
- Về liên kết sản xuất và tiêu thụ: Toàn tỉnh bước đầu hình thành 32 chuỗi liên kết. Các hình thức liên kết gồm: liên kết cung ứng vật tư đầu vào, liên kết bao tiêu sản phẩm đầu ra giữa doanh nghiệp với HTX hoặc trực tiếp với hộ dân. Tuy nhiên, liên kết còn thiếu bền vững; hiện tượng thỏa thuận bằng miệng hoặc hợp đồng thiếu ràng buộc pháp lý chặt chẽ dẫn đến tình trạng phá vỡ hợp đồng khi giá nông sản trên thị trường tự do biến động.
- Về kết quả và hiệu quả sản xuất: Phân tích so sánh cho thấy nhóm hộ tham gia liên kết chuỗi giá trị đạt năng suất, doanh thu và lợi nhuận trên một đơn vị diện tích cao hơn rõ rệt so với nhóm hộ sản xuất phân tán không liên kết. Hoạt động của trang trại mang lại tỷ suất lợi nhuận và thu nhập bình quân đầu người cao hơn kinh tế hộ. Doanh thu và lợi nhuận của các HTX sau chuyển đổi có sự tăng trưởng nhưng mức phân phối lợi nhuận cho thành viên còn hạn chế.
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển các hình thức tổ chức sản xuất:
- Chính sách của Nhà nước: Các chính sách về đất đai (hạn mức giao đất, thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng), chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp - nông thôn và chính sách hỗ trợ phát triển HTX theo Nghị định 98/2018/NĐ-CP có ảnh hưởng trực tiếp đến động lực đầu tư.
- Đầu tư công và dịch vụ công: Chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông nội đồng, hệ thống thủy lợi, dịch vụ khuyến nông và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tác động lớn đến quyết định mở rộng sản xuất của doanh nghiệp và trang trại.
- Năng lực của các tổ chức kinh tế: Trình độ học vấn, năng lực quản trị kinh doanh của chủ trang trại, ban giám đốc HTX và chủ hộ nông dân còn nhiều hạn chế, gây khó khăn cho việc đàm phán hợp đồng thương mại.
- Yếu tố thị trường: Biến động giá cả vật tư đầu vào và giá nông sản đầu ra, sự cạnh tranh của tư thương, cùng hệ thống chợ đầu mối chưa hoàn thiện gây rủi ro lớn cho tiêu thụ nông sản.
3. Hệ thống giải pháp đề xuất đến năm 2030:
Luận án đề xuất 6 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Quy hoạch vùng sản xuất: Hoàn thiện quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với lợi thế sinh thái của từng huyện (vùng lúa chất lượng cao Nam Trực, thủy sản và dược liệu Hải Hậu, rau củ quả Mỹ Lộc);
- Tăng cường liên kết, hợp tác trong phát triển sản xuất: Phát triển mô hình liên kết chuỗi giá trị theo Nghị định 98/2018/NĐ-CP, lấy doanh nghiệp làm đầu tàu, HTX làm cầu nối và nông dân là chủ thể trực tiếp; thiết lập cơ chế giám sát thực hiện hợp đồng tiêu thụ nông sản;
- Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm: Xây dựng thương hiệu nông sản Nam Định, xúc tiến thương mại, hỗ trợ truy xuất nguồn gốc và mở rộng các kênh phân phối hiện đại;
- Quản lý thị trường đầu vào, đầu ra: Tăng cường kiểm soát chất lượng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; phát triển hệ thống chợ đầu mối nông sản;
- Nâng cao chất lượng dịch vụ công và hỗ trợ đầu tư công: Cải thiện hạ tầng giao thông, thủy lợi phục vụ sản xuất quy mô lớn; đổi mới công tác khuyến nông, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật; nâng cao chỉ số PCI;
- Vốn sản xuất: Hoàn thiện cơ chế thế chấp tài sản trên đất nông nghiệp để tạo điều kiện cho hộ, trang trại, HTX và doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng; thành lập và mở rộng các quỹ hỗ trợ phát triển HTX và nông dân.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án hệ thống hóa và làm rõ nội hàm khái niệm phát triển các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường, xác định bản chất phát triển bao hàm cả sự gia tăng về quy mô lượng (số lượng tổ chức, quy mô đất đai, lao động, vốn) và sự chuyển dịch về chất (công nghệ, quy trình sản xuất, liên kết chuỗi và hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường).
- Bổ sung và hoàn thiện khung phân tích đánh giá phát triển tổ chức sản xuất nông nghiệp dựa trên 5 nội dung cấu thành (số lượng và phương hướng; quy mô nguồn lực; công nghệ và quy trình; liên kết tiêu thụ; kết quả và hiệu quả) và xác định 4 nhóm yếu tố tác động chủ yếu.
Về mặt phương pháp luận:
- Vận dụng đồng bộ 4 phương pháp tiếp cận (hệ thống, hai khu vực kinh tế, loại hình tổ chức kinh tế và vùng sản xuất) kết hợp giữa phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh và phân tích nhân tố định lượng trên bộ dữ liệu khảo sát thực nghiệm 492 đơn vị cơ sở sản xuất tại 3 tiểu vùng sinh thái đại diện.
Về mặt thực tiễn:
- Phác họa bức tranh toàn diện và số liệu xác thực về thực trạng 4 loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Nam Định giai đoạn 2016 - 2020: chỉ ra sự tồn tại áp đảo của kinh tế hộ nhỏ lẻ (chiếm 99,8%), tốc độ chuyển đổi chậm (0,03%/năm); làm rõ thực trạng của 366 trang trại, 388 HTX, 104 doanh nghiệp nông nghiệp và 32 chuỗi liên kết.
- Chỉ ra các nút thắt thực tế trong liên kết tiêu thụ nông sản: cơ chế hợp đồng lỏng lẻo, thỏa thuận miệng phổ biến, năng lực đàm phán của nông dân và HTX còn yếu.
- Đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp thực tiễn có tính đồng bộ và khả thi cao nhằm định hướng phát triển các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Nam Định đến năm 2030.
Về kiến nghị:
- Đối với Nhà nước: Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về tích tụ, tập trung đất đai nông nghiệp; đổi mới chính sách tín dụng theo hướng chấp nhận tài sản hình thành trên đất nông nghiệp làm tài sản bảo đảm; hoàn thiện cơ chế hỗ trợ liên kết chuỗi theo Nghị định 98/2018/NĐ-CP.
- Đối với chính quyền địa phương các cấp tại Nam Định: Tập trung rà soát và thực hiện nghiêm quy hoạch các vùng sản xuất chuyên canh tập trung; nâng cao hiệu lực dịch vụ công và hỗ trợ đầu tư công cho hạ tầng nông nghiệp; củng cố hoạt động của các HTX sau chuyển đổi, nâng cao năng lực quản trị cho ban giám đốc HTX và chủ trang trại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về phạm vi đối tượng: Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu các tổ chức kinh tế có hoạt động trực tiếp sản xuất nông nghiệp (hộ, trang trại, HTX, doanh nghiệp), chưa mở rộng nghiên cứu sâu các doanh nghiệp thuần túy làm dịch vụ thương mại, chế biến sâu hoặc cung ứng vật tư nông nghiệp không trực tiếp canh tác. Luận án cũng chủ động lược bỏ hình thức tổ hợp tác do số lượng và tỷ lệ thực tế tại Nam Định không đáng kể.
- Về phạm vi không gian và thời gian: Mẫu khảo sát sơ cấp tập trung tại 3 huyện (Hải Hậu, Nam Trực, Mỹ Lộc), chưa bao quát toàn bộ 10 huyện/thành phố của tỉnh; chuỗi số liệu thứ cấp dừng lại ở mốc năm 2020 và số liệu khảo sát thực tế đến năm 2021.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát đối với toàn bộ các chủ thể trong chuỗi giá trị nông sản, bao gồm hệ thống logistics, các nhà máy chế biến nông sản xuất khẩu và các hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại.
- Nghiên cứu sâu tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình chuyển đổi số trong công tác quản lý, truy xuất nguồn gốc nông sản tại các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp ở giai đoạn sau năm 2022.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các đối tượng cụ thể:
- Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Cán bộ thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Kế hoạch & Đầu tư, Liên minh HTX tỉnh Nam Định và các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng có thể sử dụng các kết quả đánh giá thực trạng, phân tích điểm nghẽn và hệ thống 6 nhóm giải pháp để xây dựng quy hoạch sản xuất nông nghiệp hàng hóa, ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể và hoàn thiện tiêu chí số 13 trong chương trình xây dựng nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án cung cấp khung phân tích chuẩn mực về kinh tế tổ chức trong nông nghiệp, hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý thuyết về kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp, cùng phương pháp thiết kế mẫu khảo sát thực địa kết hợp 4 cách tiếp cận.
- Các chủ trang trại, ban giám đốc HTX và doanh nghiệp nông nghiệp: Tham khảo các phân tích so sánh hiệu quả giữa mô hình có liên kết và không liên kết, từ đó nhận diện rủi ro trong thỏa thuận hợp đồng và định hướng tái cấu trúc mô hình sản xuất theo hướng liên kết chuỗi bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tập trung vào các hình thức tổ chức sản xuất nào và tại sao không nghiên cứu sâu tổ hợp tác?
Luận án tập trung vào 4 hình thức tổ chức có hoạt động trực tiếp sản xuất nông nghiệp gồm: hộ nông dân, trang trại, hợp tác xã nông nghiệp và doanh nghiệp nông nghiệp, cùng với các mô hình liên kết kinh tế giữa chúng. Hình thức tổ hợp tác không được chọn làm đối tượng nghiên cứu trọng tâm do số lượng và tỷ lệ tổ hợp tác tại tỉnh Nam Định chiếm tỷ trọng rất thấp trong cơ cấu các tổ chức kinh tế nông nghiệp của địa phương.
2. Quy mô mẫu điều tra sơ cấp của luận án được phân bổ như thế nào?
Nghiên cứu tiến hành khảo sát định lượng trên tổng số 492 cơ sở sản xuất tại tỉnh Nam Định, bao gồm: 300 hộ nông dân, 90 trang trại, 80 hợp tác xã nông nghiệp và 22 doanh nghiệp nông nghiệp. Mẫu được phân bổ đại diện tại 3 huyện: Hải Hậu (vùng ven biển), Nam Trực (vùng đất trung tâm) và Mỹ Lộc (vùng ven đô thị). Ngoài ra, tác giả thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu cán bộ quản lý cấp tỉnh/huyện và tổ chức thảo luận nhóm chuyên đề.
3. Cơ cấu tổ chức sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Nam Định giai đoạn 2016 - 2020 có đặc điểm gì nổi bật?
Đặc điểm nổi bật nhất là tính chất sản xuất tiểu nông vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối: số lượng hộ nông dân chiếm tới 99,8% tổng số đơn vị sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh và tốc độ giảm rất chậm (bình quân 0,03%/năm giai đoạn 2016 - 2020). Tính đến cuối năm 2020, toàn tỉnh có 366 trang trại, 388 HTX nông nghiệp, 104 doanh nghiệp nông nghiệp và 32 chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ nông sản chủ lực.
4. Những rào cản chủ yếu trong các mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản tại Nam Định là gì?
Rào cản lớn nhất được luận án chỉ ra là cơ chế liên kết còn lỏng lẻo; phương thức thỏa thuận bằng miệng hoặc hợp đồng thiếu ràng buộc pháp lý chặt chẽ còn phổ biến. Năng lực thực tế của các bên tham gia, đặc biệt là hộ nông dân và ban quản trị HTX, còn yếu. Tình trạng phá vỡ cam kết hợp đồng tiêu thụ khi giá nông sản thị trường biến động diễn ra thường xuyên, làm suy giảm tính bền vững của các chuỗi liên kết.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp nào để phát triển các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp tại Nam Định đến năm 2030?
Luận án đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ: (1) Quy hoạch vùng sản xuất tập trung theo lợi thế sinh thái; (2) Tăng cường liên kết, hợp tác phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị; (3) Phát triển thị trường tiêu thụ và xúc tiến thương mại nông sản; (4) Tăng cường quản lý thị trường vật tư đầu vào và sản phẩm đầu ra; (5) Nâng cao chất lượng dịch vụ công và hỗ trợ đầu tư công (hạ tầng, khuyến nông, chỉ số PCI); (6) Tháo gỡ khó khăn về vốn sản xuất và tín dụng cho các chủ thể nông nghiệp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Phong đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận cũng như thực tiễn về phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp tại tỉnh Nam Định. Công trình chỉ ra bức tranh thực trạng với sự tồn tại áp đảo của quy mô hộ nông dân nhỏ lẻ (chiếm 99,8%), cùng quá trình đổi mới của 366 trang trại, 388 hợp tác xã, 104 doanh nghiệp nông nghiệp và 32 chuỗi liên kết. Thông qua việc phân tích toàn diện 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng về chính sách, đầu tư công - dịch vụ công, năng lực nội tại và thị trường, luận án đã đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn định hướng đến năm 2030. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn dữ liệu thực nghiệm xác thực, phục vụ thiết thực cho công tác hoạch định chính sách tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển nông thôn bền vững tại địa phương.