Luận văn phát triển bền vững miền núi tỉnh Kon Tum - Thành tựu 10 năm

Luận văn nghiên cứu phát triển bền vững miền núi Kon Tum qua 10 năm. Phân tích tài nguyên, khí hậu, thổ nhưỡng, thành tựu đạt được và các vấn đề cần quan tâm.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo

2000

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách phát triển bền vững miền núi Kon Tum trong 10 năm qua

Phát triển bền vững miền núi Kon Tum trong giai đoạn 2014–2024 đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực nhờ sự kết hợp giữa chính sách nhà nước, ứng dụng khoa học công nghệ và sự tham gia của cộng đồng địa phương. Với đặc điểm địa hình đồi núi, khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên và hệ sinh thái đa dạng, Kon Tum đối mặt với thách thức về suy thoái tài nguyên, biến đổi khí hậu và chênh lệch phát triển vùng. Tuy nhiên, các chương trình như Chương trình 135, 327 và các mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, bảo vệ rừng, phát triển nông nghiệp sạch đã tạo nền tảng cho mô hình tăng trưởng xanh. Dẫn chứng từ báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Kon Tum (2023) cho thấy tỷ lệ hộ nghèo khu vực miền núi giảm từ 38% (2014) xuống còn 19% (2023), đồng thời diện tích rừng được giao cho hộ dân quản lý tăng 22%. Các mô hình kinh tế sinh thái như trồng dược liệu dưới tán rừng, chăn nuôi hữu cơ và du lịch cộng đồng đã góp phần cải thiện sinh kế mà không làm tổn hại môi trường. Đây là minh chứng rõ ràng cho hướng tiếp cận phát triển bền vững – cân bằng giữa kinh tế, xã hội và sinh thái.

1.1. Đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng đến phát triển bền vững Kon Tum

Kon Tum sở hữu địa hình cao nguyên bị phân cắt mạnh, lớp phủ bazan dày và hệ thống sông ngòi phong phú như sông Đăk Bla, Pô Cô. Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa với lượng mưa trung bình năm từ 2.000–3.000 mm, độ ẩm không khí dao động 13–91%. Những điều kiện này thuận lợi cho nông lâm nghiệp nhưng cũng dễ dẫn đến xói mòn đất và lũ quét nếu khai thác thiếu kiểm soát. Đặc biệt, vùng phía đông khối Ngọc Linh có mùa mưa kéo dài đến tháng 2 năm sau, tạo cơ hội cho canh tác đa vụ nhưng đòi hỏi kỹ thuật giữ ẩm và chống úng.

1.2. Cơ sở pháp lý và chính sách hỗ trợ phát triển bền vững

Trong 10 năm qua, tỉnh Kon Tum đã vận dụng hiệu quả các chính sách trung ương như Chương trình 135 (hỗ trợ vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn), Chương trình 327 (giao đất giao rừng), cùng các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Chính quyền tỉnh cũng ban hành cơ chế ưu đãi đầu tư, hỗ trợ vốn tín dụng cho hộ đồng bào dân tộc, và đẩy mạnh liên kết doanh nghiệp – nông dân trong chuỗi giá trị nông sản. Việc giao đất, giao rừng cho hộ dân không chỉ bảo vệ tài nguyên mà còn nâng cao quyền lợi sử dụng đất như một tài sản sản xuất.

II. Thách thức lớn nhất khi thực hiện phát triển bền vững miền núi Kon Tum

Dù đạt được nhiều tiến bộ, phát triển bền vững miền núi Kon Tum vẫn đối mặt với hàng loạt rào cản mang tính hệ thống. Một trong những thách thức nổi bật là suy giảm tài nguyên thiên nhiên do khai thác quá mức, đặc biệt là rừng và khoáng sản. Theo khảo sát của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (2021), tỉnh có tới 214 điểm quặng với 40 loại khoáng sản, trong đó vàng, bauxit và đá xây dựng thường bị khai thác trái phép. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng yếu kém ở vùng sâu vùng xa làm chậm quá trình tiếp cận thị trường và dịch vụ kỹ thuật. Mật độ đường giao thông nông thôn thấp, điện lưới chưa phủ đều, và thiếu hệ thống xử lý nước thải gây cản trở cho các dự án du lịch sinh thái hoặc chế biến nông sản. Ngoài ra, trình độ dân trí và năng lực quản lý của người dân tộc thiểu số còn hạn chế, dẫn đến việc tiếp nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật chậm. Nhiều mô hình khuyến nông thất bại do thiếu đào tạo bài bản và theo dõi sau triển khai. Cuối cùng, biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét: mùa khô kéo dài hơn, nguy cơ cháy rừng tăng, trong khi mùa mưa lại tập trung quá dồn dập, gây sạt lở đất ở các sườn dốc – đặc biệt tại các huyện như Kon Plong, Đăk Glei.

2.1. Suy thoái tài nguyên rừng và áp lực khai thác khoáng sản

Diện tích rừng tự nhiên tại Kon Tum từng suy giảm mạnh do chuyển đổi đất, du canh du cư và khai thác gỗ trái phép. Mặc dù chương trình giao rừng cho dân đã giúp phục hồi đáng kể, nhưng áp lực từ nhu cầu đất sản xuất và khai thác vàng sa khoáng vẫn tồn tại. Các điểm khai thác vàng ở Đăk Tô, Tu Mơ Rông thường đi kèm với ô nhiễm thủy ngân và phá vỡ hệ sinh thái suối.

2.2. Hạn chế về hạ tầng và nguồn nhân lực địa phương

Hạ tầng giao thông, điện, nước sạch và viễn thông ở vùng cao Kon Tum vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều xã chưa có đường nhựa, khiến chi phí vận chuyển nông sản tăng 30–40%. Đồng thời, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở vùng đồng bào dân tộc dưới 15%, dẫn đến khó khăn trong tiếp cận công nghệ canh tác tiên tiến hoặc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

III. Phương pháp phát triển bền vững hiệu quả tại miền núi Kon Tum

Để vượt qua thách thức, phát triển bền vững miền núi Kon Tum đã áp dụng nhiều phương pháp tiếp cận tổng hợp, lấy con người và hệ sinh thái làm trung tâm. Trước hết, tỉnh đẩy mạnh giao đất giao rừng gắn với sinh kế, cho phép hộ dân khai thác lâm sản ngoài gỗ (dược liệu, mật ong, tre nứa) dưới tán rừng – mô hình đã thành công tại Ngọc Linh với sâm Việt Nam. Thứ hai, ứng dụng khoa học công nghệ vào nông nghiệp thông qua mạng lưới khuyến nông cơ sở, xây dựng các mô hình trình diễn như lúa cạn chịu hạn, cà phê hữu cơ, hoặc chăn nuôi heo đen bản địa. Thứ ba, phát triển du lịch cộng đồng dựa trên giá trị văn hóa Tây Nguyên và cảnh quan thiên nhiên, điển hình là các làng du lịch ở Kon Tum, Măng Đen (Kon Plong). Các mô hình này không chỉ tạo thu nhập mà còn bảo tồn tri thức bản địa. Cuối cùng, tỉnh chủ động huy động nguồn lực từ ODA, FDI và liên kết vùng với Gia Lai, Quảng Ngãi để đầu tư hạ tầng chiến lược như thủy điện YaLy, đường Hồ Chí Minh nhánh Tây, và cụm công nghiệp chế biến nông lâm sản.

3.1. Mô hình kinh tế rừng kết hợp dược liệu và du lịch sinh thái

Tại vùng núi Ngọc Linh, mô hình trồng sâm Việt Nam dưới tán rừng tự nhiên đã mang lại giá trị kinh tế cao (1–2 tỷ đồng/ha) đồng thời bảo vệ độ che phủ rừng. Kết hợp với du lịch trekking, trải nghiệm văn hóa Xơ Đăng, Ba Na, mô hình này tạo chuỗi giá trị khép kín, giảm phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thô.

3.2. Ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp bền vững

Các trạm khuyến nông đã triển khai hệ thống tưới nhỏ giọt cho cây ăn quả, sử dụng phân bón vi sinh thay thế hóa chất, và ứng dụng phần mềm cảnh báo sâu bệnh. Mô hình cà phê bền vững theo tiêu chuẩn 4C tại Đăk Hà giúp nông dân tăng thu nhập 25% và giảm 40% lượng nước tiêu thụ.

IV. Kết quả thực tiễn từ các sáng kiến phát triển bền vững Kon Tum

Sau 10 năm triển khai, phát triển bền vững miền núi Kon Tum đã cho thấy những kết quả thực tiễn rõ rệt. Về kinh tế, giá trị sản xuất nông lâm nghiệp tăng trưởng bình quân 6,2%/năm; nhiều sản phẩm OCOP như mật ong rừng, gạo lứt Đăk Glei, trà sâm Ngọc Linh đã có mặt trên thị trường cả nước. Về xã hội, tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số đến trường tăng 92%, cơ sở y tế phủ 100% xã. Về môi trường, độ che phủ rừng đạt 65,8% (2023), cao nhất khu vực Tây Nguyên. Đặc biệt, huyện Kon Plong – từng là vùng “trắng” đầu tư – nay trở thành điểm sáng với Khu du lịch sinh thái Măng Đen, thu hút hơn 300.000 lượt khách/năm và tạo việc làm cho 1.200 lao động địa phương. Các dự án ODA như Dự án Quản lý rừng bền vững (do JICA tài trợ) đã hỗ trợ 12.000 hộ dân xây dựng kế hoạch sử dụng rừng dài hạn. Ngoài ra, chương trình tín dụng ưu đãi đã giải ngân hơn 2.500 tỷ đồng cho vay vốn sản xuất, giúp hơn 50.000 hộ thoát nghèo theo chuẩn đa chiều.

4.1. Chuyển đổi sinh kế nhờ mô hình OCOP và du lịch cộng đồng

Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đã giúp 47 sản phẩm địa phương đạt từ 3–4 sao, trong đó 70% do hợp tác xã dân tộc thiểu số sản xuất. Doanh thu từ du lịch cộng đồng tại Kon Tum tăng 18%/năm, góp phần giữ chân thanh niên ở lại quê hương thay vì di cư.

4.2. Phục hồi hệ sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học

Các khu bảo tồn như Ngọc Linh, Chư Mom Ray đã ghi nhận sự hồi phục của nhiều loài quý hiếm như vượn má hung, sao la. Chương trình trồng cây bản địa thay thế cây ngoại lai giúp cải thiện đa dạng di truyền và chống xói mòn đất hiệu quả.

V. Tương lai của phát triển bền vững miền núi Kon Tum đến 2030

Hướng đến năm 2030, phát triển bền vững miền núi Kon Tum sẽ tập trung vào ba trụ cột chiến lược: kinh tế xanh, chuyển đổi sốbình đẳng xã hội. Tỉnh đặt mục tiêu trở thành trung tâm dược liệu quốc gia, với vùng sâm Ngọc Linh mở rộng lên 5.000 ha. Đồng thời, Kon Tum sẽ xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, kết nối với các viện nghiên cứu để phát triển giống cây chịu hạn, chịu mặn. Về hạ tầng, dự án đường cao tốc Kon Tum – Quảng Ngãi và cụm năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời) sẽ tạo đà cho thu hút FDI chất lượng cao. Quan trọng hơn, tỉnh cam kết đảm bảo quyền tham gia ra quyết định của cộng đồng dân tộc thiểu số trong mọi dự án phát triển, thông qua cơ chế đối thoại thường xuyên và giám sát độc lập. Với tiềm năng tài nguyên, bản sắc văn hóa và cam kết chính trị mạnh mẽ, Kon Tum hoàn toàn có thể trở thành hình mẫu phát triển bền vững vùng núi cho cả nước.

5.1. Chiến lược kinh tế xanh và năng lượng tái tạo

Tỉnh quy hoạch 3 vùng năng lượng tái tạo tại Kon Plong, Tu Mơ Rông và Đăk Glei, kỳ vọng đạt công suất 800 MW điện gió và mặt trời vào 2030. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn ESG trong đầu tư.

5.2. Tăng cường vai trò của cộng đồng dân tộc thiểu số

Các chính sách sắp tới sẽ ưu tiên đào tạo cán bộ người dân tộc tại chỗ, hỗ trợ thành lập hợp tác xã do phụ nữ làm chủ, và đưa tri thức bản địa vào quản lý tài nguyên – ví dụ như kỹ thuật canh tác nương rẫy luân phiên truyền thống.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn phát triển bền vững miền núi tỉnh kon tum 10 năm qua thành công và những vấn đề quan tâm

Trích đoạn nội dung tài liệu

Bia hình cao nguyên: Phía đông khối Ngọc Linh, tỉnh Ken Tưm có eao nguyên Kon Plong năm giữa đấy An Khẻ (tỉnh Gia Lai) và dãy Ngọc Linh (tỉnh Kon Tum) với đội cao 1. Đây là một cao nguyên nhỏ phát triển theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, có lớp phủ bazan, địa hình bị phân cắt mạnh khiến bể mặt có dạng đổi kéo dài với độ cao 50 - 70 m. Tại đây do ảnh hưởng của khí hậu đông Trường Sơn, mùa mưa kéo dài hơn những nơi khác và kéo dài đến tháng 1 - tháng 2 năm sau. Lượng mưa trung bình năm ở đây trên 2.

Điều kiện thời tiết, thủy văn Kon Tưm thuộc vùng nhiệt đới gió mùa cao nguyên, với những đặc điểm nổi bật như sau: Nhiệt độ trung bình năm là 22 - 23ˆC. Nhiệt độ ban đêm thường xuống dưới 20”C. Nhiệt độ ở các vùng khác nhau thay đổi theo độ cao của địa hình. Biên độ dao động nhiệt ngày đếm lớn (ở thị xã Kon Tum 8 - 9°C).

Vùng thung lũng phía Tây và Tây Nam nhiệt độ không khí nóng hơn, nhiệt độ trung bình là 24- 25°C (đạt tiêu chuẩn khí hậu nóng) và có sự khác biệt giữa các khu vực phía Tây và Tây Nam với các vùng trũng khác ở phía Đông. Mỗi năm chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa nắng: - Mùa mưa chủ yếu bắt đầu từ tháng 4. 5 đến tháng 10, 11, tập trung đến 85 - 90%, lượng mưa hàng năm. Các vùng núi cao phía Bắc tỉnh mùa mưa thường đến sớm hơn và kết thúc muộn hơn các vùng côn lại 1 thang - Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 2 - 3 năm sau.

Đây là mùa hẩu như không có mưa hoặc mưa ít. Lượng mưa hàng nấm lớn, trung bình hàng năm là 1. Lượng mưa/năm, cao nhất 2.063 mm, lượng mưa/năm, thấp nhất 1243 mm, lượng mưa/năm nơi nhiều mưa nhất 2.600 - 3000 mm, lượng mưa nơi ít mưa nhất 2000 - 2.800 mm, thang mua cao nhất 363,1 mm ([háng 8} Kon Tum dồi dào về độ ẩm, mùa mưa thừa Ẩm, mùa khô có nhiều vùng đủ ẩm. Độ ẩm cao tuyệt đối: 91%, độ ẩm, thấp tuyệt đối 13%, độ ẩm bình quân hàng năm 78 - 87%, độ ẩm không khi tháng cao nhất (tháng 8 - 9) 91%, độ ẩm không khí tháng thấp nhất (tháng 1) 13%.

Thổ nhưỡng Kon Tum là thung lũng cổa cao nguyên Trưng Bộ, do vậy đất đai Tỉnh Kon Tum vừa mang đặc trưng đất đô bazan, vừa mang đặc điểm của đất xám do dốc tụ. Thổ nhưỡng gồm 20 loại đất, có thể chia làm 6 nhóm: - Nhôm đất phủ sa: 23.697 ha chiếm 2,6% - tổng diện tích.838 ha chiêm 0,9% - tổng điện tích. ~ Nhôm đất đỗ vàng: 559.123 na chiếm 58,3% - tổng diện tích. - Nhôm đất dốc tụ thung lũng: 3.3% - tổng ciên tích - Nhôm đất mùn trên núi cao: 387.255 ha chiếm 38,3% - tổng diện tích 487 5.

Tải nguyên khoảng sẵn Những kết quả điều tra, kndo sat gần đây cho thấy nh Kon tum cô 214 mỏ, điểm quặng, điểm khoáng hoá của 40 loại hình khoáng sản thuộc những nhôm khoáng sản sau Nhóm khoáng sản vậi liệu xây dựng: Séi gạch ngói, cát. cuội sối, đã hoa, đá vôi, granit Nhóm khoáng sản nguyên liệu cách âm, cách nhiệt, xử lý làm sạch mỗi trường Biatomit, bentônit Nhớm khoáng sẵn vật liệu chịu lửa: Xilimranil. đôlêmit, magnesit, serpentin, quarzit Nhóm khoáng sản kim loại cháy. kim loại đen.

kim loại màu và kim loại hiếm gồm: than bùn. quặng sắt, măng gan, granit, thiết, molipden, volfrarit. Khoảng sản vàng : Vàng gốc. vàng sa Nhóm khoáng sản nhôm: Bauxit nhôm Nhóm khoáng sản nguyên liệu gốm, sứ: Kaolin, Felspat cso Nước khoáng: Đã phát hiện 7 điểm nước khoáng nóng lrên toàn Tỉnh Kon Tum thuộc các huyện Đăk Tô, Kon Plong.

Tài nguyên nước a) Nguồn nước mặt Kon Tum là đầu nguồn của nhiều hệ thống sông đổ về duyên hải miễn trung nước la qua các tĩnh lân cận Gia Lai, Quảng Ngãi. Quăng Nam Đủ Năng và Cam Pu Chia như: Hệ thống đầu nguồn sỗng Ba: bắt nguồn từ vùng núi KonKL ang (nuyện Kon PLong), chảy qua huyện KonPlong, qua finh Gia Lai, nh Phú Yên và đổ ra biển đồng. Lưu lượng trung bình trong năm 220 miss; dién tích lưu vực 13.500 kmể Hệ thống sống Sẽ San: Sông Pô cô và sông Đăk Bla hợp lại thành sông Sẽ San. Diện tích lưu vực sông Sẽ Sen là 11.450 kmẺ, lưu lượng trung hình 390 mÈ⁄s.

Hai bên triển sông là các dấy núi cao làm cho dòng sông sâu hơn tạo nên nhiều thác gểnh, trong đồ cỡ thác YaLi hiện đang xây dựng công trình thủy điện Tỉnh Kon Tum còn là nơi bắt nguồn của các con sông Vệ, sông Trà Khúc, sòng Hà Giao chây về tĨnh Quảng Ngãi, sông Thu Bồn chảy về lỈth Quảng Nam - Đà Nẵng. bJ Nguồn nước ngầm Theo kết quả đều tra, tổng trữ lượng toàn tỉnh nước cấp A+B là 10. Nước ngầm tỉnh Kon Tum hầu hết thuộc loại nhạt, độ khoảng hoá < 0,5 gí. thành phần chủ yếu là các Bicarbonat (Nati, Canxi, Magiê.

) với hàm lượng thấp. Từ độ sâu 60 - 300 m trở lên có trữ lượng nước lớn. Có thể khai thác sớm các vùng: Đắk Hà, Ken Tum, Kon Plong. Tài nguyên rừng Theo số liệu thống kê rừng năm 2000.

tổng diện tích đất có rừng toàn tỉnh là: 614.472 ha (trong đó rừng tự nhiên 597. rừng trồng 16990 ha) chiếm 63.7% tổng diện tích tự nhiên (độ che phủ 63. Tổng trữ lượng gỗ các loại theo tính toán còn khoảng 46.250 triệu m? va tre nứa khoảng trên 1 tỷ cây. Trong tổng số diện tích rừng tự nhiên có 93.228 ha rừng đặc dụng, bao gồm: Khu bảo tồn thiên nhiên Chư Mom Ray: 50.734 ha, rừng đặc dụng Đăk Uy: 700 ha, Khu bao tổn thiên nhiên Ngọc Linh 41.420 ha, Khu trồng thêm trong các rừng đặc dụng: 372,4 ha.

Ha TT Diện tích đất lâm nghiệp. 1996 1997 1998 1999 2000 Tổng 612613 616357 617836 616709 614472 1 Rửng tựnhiên 602564 602564 602530 602531 597482 2_ Rừng trồng 10444 13785 15301 14178 16990 8. Đa dạng sinh học Kon Tum là một trong những nơi còn lại tính đa dạng sinh học cao, thể hiện ở sự phong phú của các hệ sinh thái, hệ động vật, thực vật và các loại cây trồng. Rừng Kon Tum có nhiều loài thú chim quý hiếm.

Thú quý hiếm có khoảng 27 loài như: hổ, báo gấm, báo hoa mai, bò rừng, bò tót, voi. chỉm quý hiếm có khoảng 7 loài như: công, trĩ sao, gà lôi vẫn, gà lôi hồng, hồng hoàng, niệc mỏ vẫn Các loài dộng thuc vật có nguy cơ bị đe doạ Một số loài động - thực vật rừng ở tỉnh Kon Tum được xem là quý hiếm cần phải có chế độ bảo vệ để duy trì, nuôi dưỡng và phát triển nguồn gen. Song trong thời gian qua các loài động - thực vật này đã và đang bị tác động, vừa tác động về mặt khai thác vừa tác động về mặt môi trường và có nguy cơ đang bị đe doạ, trong đó: 1/ Thực vật rừng: ~ Trắc vàng (Dalbergia fusca) ~ Pømu (Fokienta hodginsii) ~ Hương (Pterocarpus) ~ Gió bầu (Aquilaria sp) ~ Cẩm lai (Dalbergia) 2⁄ Động vật rừng: ~ Voi ( Elephas maximus) ~ Hổ (Panthera tigris) ~ Báo gấm (Neojelic nebu lose). - Gấu ngựa Nhưng lao động trong các ngành công nghiệp (như xây dựng.

chế biến gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng. ) phần lớn chưa qua đào tạo, chất lượng đội ngũ lao động thấp. Tinh hình di dân Theo số liệt đều tra của Chỉ cục dân tộc Định canh - Định cư va Kinh tế mới, tăng cơ học các năm 1996 - 1996 từ 4.000 hộ, năm 1997 giảm hơn những năm trước, chỉ còn khoảng vải trăm hộ. Năm 1998 đón 280 hộ dân kinh tế mới và di dân 8.794 hộ bị ngập nước lòng hồ Yali.

Năm 1996 - 2000 di treo chương trỉnh xây dựng vùng kinh tế mới 626 hộ với 2. Số dan di cu tự do: 576 với hộ 2. Văn hóa - thông tin Trong 10 năm qua tình hình văn hóa xã hội của tỉnh đã có nhiều tiến bộ, công tác định canh định œư, giải quyết việc làm. số hộ sử dùng điện nước sạch ngày cảng tăng cao, phảt lhanh truyền hình, bưu chính viễn thông ngày càng phát triển.

Đến nay đã cö 100% hộ dân được phủ sóng phát thanh, 85% hộ dân được phổ sóng truyền hình, 100% xã cô tử sách pháp luật, có bảo nhân dân, báo địa phương. Văn hóa, nghệ thuật truyền thống của các dán tộc được chú trọng bảo vệ và phát huy, nhiều nhà rồng văn hóa được khôi phục, chủ trọng phát triển văn hỏa nghệ thuật công chiêng Tuy nhiên. tình trạng thiếu thông tin và đời sống văn hoá ở người đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa còn thấp, tập quán lạc hậu và tập tục mẽ tin dị đoan vẫn diễn ra phổ biến 2. Giáo dục đảo tạo Giáo dục đào tạo phát triển mạnh cả về qui mô và chất lượng.

đội ngũ giáo viên tăng nhanh Trong 10 năm. số giáo viên trực tiếp giảng dạy phổ thông tại thời điểm 30/9/2000 ở Kon Tum là 3.815 người tăng gấp 8,6 lần so với năm 1994, số học sinh phổ thông là 92.446 tăng gấp 3,5 lần so với năm 1991, có 732 giáo viên và 18.031 học sinh mẫu giáo. Tỉnh đã khắc phục mội cách cơ bản tình trạng thiếu giáo viên, thiếu lớp ở vùng sảu vùng xa. tinh được công nhận đạt chuẩn xóa mù chữ và phể cập giáo dục tiểu học.

Nhưng nhìn chung giáo dục đảo lạo vẫn chưa đắp ứng yêu cầu nâng cao dân trí và đảo tạo nguồn nhân lực cho địa phương hiện nay. 28 Yiế Mạng lưỡi y tế phát triển rộng khắp, đội ngũ cán bộ y tế được tăng cưỡng, số lượng cán bộ. ngành y tại thời điểm 30/9/2000 là 779 người trong đó có 146 bác sỹ, 95,7% cóc xá có trạm xá xã; bình quân mỗi xã có 3,9 cán bộ y tế. Chất lượng khám chữa bệnh được chú trọng, công tác chăm sóc sức khỏe bạn đầu của nhân dân được quan lâm, công tác kế hoạch hóa gia đình và chấm sóc trễ em có nhiều tiến bộ; tý lệ từng tự nhiên giảm từ 3.6% năm 2000, tỷ lệ trả em suy dinh dưỡng giảm tử 80% xuống còn 37%.

Tuy nhiên, tinh trạng lhiếu đội ngũ y bác sỹ, nhất là cấp huyện và cơ sở còn khả cao. Công tác chăm sóc sức khoẻ và ý tế dự phòng còn hạn chế. Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh vùng đồng bào dân tộc còn cao. Cơ sở hạ tầng và đồ thị Năm 1892 còn 12/67 xã phường.

thị trấn chưa cô đường ð 1ö vào trung tâm xã, đến nay chỉ còn 3/79 xã chưa có đường 6 1Õ đi đến xã.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ