phần mở đầu giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp 7 nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu và phần kết luận kiến nghị thì luận văn trình bày các chương tiếp theo như sau: Chương 2 Trình bày cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu trước để hình thành khung phân tích cho nghiên cứu này. Chương 3 Phân tích các hỗ trợ của nhà nước dành cho BHTS ĐBXB. Chương 4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia BHTS ĐBXB của các đối tượng tiềm năng. Chương 5 là phần kết luận và kiến nghị.
LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 2. Lược khảo lý thuyết 2. Bảo hiểm phi nhân thọ 2.1 Vai trò của bảo hiểm Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày dù đã luôn luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn có nguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ. Các rủi ro đó do nhiều nguyên nhân.
Bất kể do nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thường đem lại cho con người những khó khăn trong cuộc sống như mất việc hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài sản, làm ngưng trệ sản xuất và kinh doanh của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân. sẽ làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội nói chung. Bảo hiểm là một phần quan trọng trong các chương trình quản lý rủi ro của các tổ chức cũng như cá nhân. Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng.
Theo quan điểm xã hội, bảo hiểm không chỉ là chuyển giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro do việc tập trung một số lớn các rủi ro cho phép có thể tiên đoán về các tổn thất khi chúng xảy ra. Bảo hiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra, có hiệu quả nhất. Như vậy, bảo hiểm ra đời là đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong quá trình phát triển của nền kinh tế hiện nay, bảo hiểm ngày càng chứng mính được vai trò quan trọng của mình đối với đời sống kinh tế xã hội.
Vai trò quan trọng của bảo hiểm với tư cách là một loại hình dịch vụ tài chính và là một trong những cơ chế đảm bảo an sinh xã hội. Vai trò bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng có thể được kể đến như: 1. Chuyển giao rủi ro Bảo hiểm vận hành giống như một cơ chế chuyển giao rủi ro. Cùng với việc đóng phí bảo hiểm, người được bảo hiểm đã chuyển giao những hậu quả rủi ro về tài chính sang công ty bảo hiểm.
Vai trò của bảo hiểm Nguồn: Bảo Việt Kiên Giang Ví dụ: Một chủ tàu tại Kiên Giang đã tham gia bảo hiểm có Số giấy chứng nhận bảo hiểm là 0130. Số tàu: KG-92981TS tham gia bảo hiểm thân tàu với giá trị 2 tỷ đồng. Hiệu lực bảo hiểm từ ngày 11/05/2015 đến 10/05/2016. Phí bảo hiểm phải đóng là: 40.000đ trong đó Nhà Nước hỗ trợ: 36.000đ chủ tàu đóng thêm 3.
Vào ngày 02/02/2016 tàu đang hoạt động lên cá tại cảng thì phát hiện sự cố vỡ mạng phải. Nguyên nhân của sự cố là do va chạm với cầu cảng. Sau khi xẩy ra chủ tàu báo ngay cho BVKG. BVKG đã tiếp nhận thông tin, cử cán bộ giám định đến hiện trường để giám định thiệt hại, lên dự toán kinh phí sửa chữa và thống nhất phương án bồi thường.
Sau khi được sự thống nhất của BVKG chủ tàu đã đem tàu đi sửa chữa, nghiệm thu và đưa tàu vào hoạt động trở. Chủ tàu thu thập đủ chứng từ, hóa đơn gửi BVKG và đến 02/08/2016 chủ tàu được BVKG bồi thường với tổng số tiền là 16,717,000đ. Đây là một rủi ro ngoài ý muốn và thiệt hại gây ra sẽ do chủ tàu gánh chịu. Nhưng với sự đồng hành của BVKG nên rủi ro này đã được san sẽ và BVKG đã nhận chuyển giao hậu quả rủi ro và bù đắp bằng một số tiền tương ứng.
San sẻ tổn thất Bảo hiểm có tác dụng san sẻ tổn thất tài chính của một số ít người cho số đông nhiều người. Đây là tác dụng hết sức quan trọng của bảo hiểm. Khi số đông tham gia bảo hiểm, không phải tất cả mọi người tham gia đều gặp phải rủi ro tổn thất mà chỉ một số ít người trong đó không may gặp phải rủi ro. Do đó, thông qua việc đóng góp một khoản tiền nhỏ, người tham gia bảo hiểm không những được bảo vệ trước những thiệt hại về tài chính (nếu có) mà còn góp phần hỗ trợ, giúp đỡ những người không may khác.
Tác dụng này đã thể hiện rõ nguyên tắc lấy số đông bù số ít và nguyên tắc tương hỗ. Giảm thiểu tổn thất, thiệt hại Trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ, các công ty bảo hiểm luôn chú ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp phòng tránh cần thiết để bảo vệ đối tượng bảo hiểm, góp phần đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khỏe con người, của cải và vật chất của xã hội. Giải quyết hậu quả kịp thời giúp khách hàng nhanh chóng ổn định kinh doanh và cuộc sống. Ví dụ: Khi xảy ra rủi ro với đối tượng được bảo hiểm, các công ty bảo hiểm nhanh chóng thực hiện cứu hộ, khôi phục, sửa chữa tài sản thiệt hại, nhanh chóng chi trả, giải quyết quyền lợi cho bên mua bảo hiểm¼.
Ổn định chi phí Nếu không tham gia bảo hiểm, khách hàng có thể tiết kiệm được một khoản chi phí (phí bảo hiểm) giúp giảm chi (nếu các yếu tố khác không đổi). Nhưng thay vào đó họ phải tự mình lập ra những khoản dự phòng (có thể rất lớn) để đề phòng cho những rủi ro, tổn thất có thể sẽ gặp phải trong tương lai, hoặc "chờ đợi" khi rủi ro, tổn thất xảy ra sẽ phải có những khoản chi phí phát sinh (có thể rất lớn) để bù đắp, giải quyết thiệt hại, tổn thất. Như vậy dù bằng cách này hay cách khác, khi không tham gia bảo hiểm, với những rủi ro tổn thất có thể sẽ xảy ra trong tương lai, khách hàng không thể chủ động về mặt chi phí để "đối phó" với những rủi ro, tổn thất này. Ngược lại, khi tham gia bảo hiểm, khách hàng có thể chủ động về mặt chi phí.
Bằng việc đóng những khoản phí bảo hiểm (rất nhỏ 11 so với những thiệt hại, tổn thất khi rủi ro xảy ra), khách hàng sẽ được đảm bảo an toàn bởi các công ty bảo hiểm. An tâm về mặt tinh thần Tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm đã chuyển phần rủi ro của mình sang công ty bảo hiểm nên đã giải toả được nỗi sợ hãi và lo lắng về những tổn thất có thể xảy ra. Kích thích tiết kiệm Bảo hiểm ra đời đã tạo ra một hình thức tiết kiệm linh hoạt, tác động đến tư duy của các cá nhân, hộ gia đình, chủ doanh nghiệp, góp phần hình thành nên một ý thức, thói quen về tiết kiệm một phần thu nhập để có một tương lai an toàn hơn. Hơn thế nữa trong bảo hiểm nhân thọ có những hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính bảo vệ, vừa mang tính tiết kiệm.
Khi không có rủi ro xảy ra, khoản phí bảo hiểm khách hàng đóng có tính chất như những khoản tiền được tích lũy định kỳ. Hay nói cách khác, khi không có rủi ro xảy ra, bảo hiểm là một trong những hình thức tiết kiệm hiệu quả cho khách hàng. Đầu tư phát triển kinh tế Một trong những đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là phí nộp trước, việc bồi thường, chi trả tiền bảo hiểm chỉ được thực hiện khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra. Do vậy, các công ty bảo hiểm có một quỹ tiền tệ tập trung khá lớn.
Lượng vốn này sẽ được các công ty bảo hiểm tính toán đầu tư sao cho có hiệu quả bởi lẽ khả năng cạnh tranh của mỗi công ty bảo hiểm phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả hoạt động đầu tư. Trên cơ sở của kết quả đầu tư, các công ty sẽ có điều kiện giảm phí để từ đó thu hút khách hàng, đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế. Các tổ chức bảo hiểm đầu tư vào nền kinh tế theo nhiều kênh khác nhau, trong đó có thị trường bất động sản, thị trường vốn và đặc biệt là thị trường chứng khoán. Tạo công ăn việc làm Xét trên bình diện vĩ mô, bảo hiểm đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và là lĩnh vực thu hút lao động xã hội không nhỏ.
Ngoài 12 ra, thông qua đầu tư dưới nhiều hình thức, bảo hiểm còn gián tiếp tạo thêm nhiều việc làm cho các ngành khác.2 Bảo hiểm phi nhân thọ Bảo hiểm phi nhân thọ là sự cam kết chi trả cho người tham gia hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm là một số tiền nhất định khi có các sự kiện bảo hiểm đã định trước xảy ra từ người bảo hiểm và người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. Các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ Nguồn: Tác giả luận văn Bảo hiểm tài sản Bảo hiểm tài sản là loại một loại hình bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tài sản (cố định hay lưu động) của người được bảo hiểm như: bảo hiểm cho thiệt hại vật chất xe cơ giới; bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu của các chủ hàng; bảo hiểm tài sản của gia chủ khi bị mất cắp, bảo hiểm thân tàu… Các bảo hiểm về tài sản đều có một số đặc điểm chung sau: Áp dụng nguyên tắc bồi thường khi thanh toán chi trả bảo hiểm. Số tiền bồi thường mà bên được bảo hiểm nhận được trong mọi trường hợp không được vượt quá thiệt hại thực tế trong sự cố bảo hiểm. 13 Ví dụ: Một chủ tàu tại Kiên Giang đã tham gia bảo hiểm có Số giấy chứng nhận bảo hiểm là 0356.
Số tàu: KG-90209TS tham gia bảo hiểm thân tàu với giá trị 2,8 tỷ đồng. Hiệu lực bảo hiểm từ ngày 08/07/2015 đến 07/07/2016. Phí bảo hiểm phải đóng là: 46.000đ trong đó Nhà Nước hỗ trợ: 42.000đ chủ tàu đóng thêm 4. Vào ngày 02/02/2016 tàu đang hoạt động trên vùng biển Kiên Giang thì phát hiện sự cố cốt máy bị nứt.
Nguyên nhân của sự cố là do cốt máy bị ẩn tỳ.