phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, phần nội dung đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá tỉnh Quảng Bình Chƣơng 3: Định hƣớng, mục tiêu, giải pháp phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá tỉnh Quảng Bình. 5 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HẬU CẦN NGHỀ CÁ 1. L luận chung về khai thác thủy sản 1.
Khái niệm về khai thác thủy sản Khai thác thuỷ sản là một trong những nghề có từ lâu đời nhằm khai thác nguồn lợi hải sản sẵn có trong tự nhiên biển cả, đáp ứng nhu cầu cuộc sống. Từ trƣớc đến nay đã có nhiều tác giả đƣa ra các khái niệm khác nhau về khai thác thủy sản. Theo Luật Thủy sản năm 2017, khái niệm khai thác thủy sản là hoạt động đánh bắt hoặc hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản. Hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản là hoạt động thăm dò, tìm kiếm, dẫn dụ, vận chuyển nguồn lợi thủy sản đánh bắt trong vùng nƣớc tự nhiên [32].
Nhƣ vậy, có thể nói khai thác thủy sản là quá trình hoạt động của con ngƣời sử dụng các loại phƣơng tiện nhƣ tàu, thuyền, các cấu trúc nổi khác và các loại ngƣ cụ để thu đƣợc những nguồn lợi sinh vật từ biển và đại dƣơng nhằm đáp ứng nhu cầu của con ngƣời. Khai thác thủy sản là hoạt động đánh bắt hoặc hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợi hải sản trên vùng biển của Việt Nam hoặc quốc tế đƣợc cấp phép. Hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợi hải sản là hoạt động thăm dò, tìm kiếm, dẫn dụ, vận chuyển nguồn lợi hải sản đánh bắt trong vùng nƣớc tự nhiên. Trong hoạt động khai thác thủy sản thì hoạt động khai thác hải sản luôn giữ vai trò quan trọng, sản lƣợng luôn cao hơn khai thác nội địa, bởi thế cần phải có những chính sách, kế hoạch phát triển khác nhau.
Phân loại nghề khai thác thủy sản - Theo cơ cấu nghề nghiệp: Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 23 loại nghề khai thác thủy sản khác nhau, trong đó có 07 họ nghề chính sau đây [10]. 6 - Theo năng lực phƣơng tiện khai thác và ngƣ trƣờng: Đối với tàu đánh bắt nguồn lợi thủy sản: Tàu có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở lên hoạt động tại vùng khơi, không đƣợc hoạt động tại vùng ven bờ và vùng lộng; Tàu có chiều dài lớn nhất từ 12 mét đến dƣới 15 mét hoạt động tại vùng lộng, không đƣợc hoạt động tại vùng khơi và vùng ven bờ; Tàu có chiều dài lớn nhất dƣới 12 mét hoạt động tại vùng ven bờ không đƣợc hoạt động tại vùng lộng và vùng khơi; tàu đăng ký tại tỉnh nào thì chỉ đƣợc hoạt động tại vùng ven bờ của tỉnh đó; trừ trƣờng hợp có thỏa thuận về hoạt động tàu cá ở vùng ven bờ của Ủy ban nhân dân hai tỉnh [19]. Đối với tàu hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản: Tàu có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở lên hoạt động tại vùng ven bờ, vùng lộng và vùng khơi; Tàu có chiều dài lớn nhất từ 12 mét đến dƣới 15 mét hoạt động tại vùng ven bờ và vùng lộng, không đƣợc hoạt động tại vùng khơi; Tàu có chiều dài lớn nhất dƣới 12 mét hoạt động tại vùng ven bờ không đƣợc hoạt động tại vùng lộng và vùng khơi [19]. Thực tế sản xuất, mỗi vùng biển có một cách bố trí sản xuất khác nhau phụ thuộc vào nghề nghiệp khai thác và quy mô, mức độ trang bị tàu thuyền, ngƣ lƣới cụ phục vụ sản xuất.
Vì vậy, phân loại thành ba vùng chủ yếu: Vùng khơi đƣợc giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế của vùng biển Việt Nam [19]. Nhƣ vậy, vùng đánh bắt xa bờ (vùng khơi) độ sâu nƣớc biển trên 90m trở lên đòi hỏi phải trang bị tàu công suất trên 90CV, các tàu khai thác có khả năng chịu đƣợc sóng gió cấp 6 - 7, đánh bắt dài ngày trên biển bằng các nghề vây, chụp mực và câu khơi. Vùng lộng đƣợc giới hạn bởi tuyến bờ và tuyến lộng [19]. Vùng lộng có độ sâu nƣớc biển từ 50m - 90m, mức nƣớc sâu đòi hỏi trang bị tàu, thuyền có công suất trên 60CV, chịu đƣợc sóng, gió cấp 5 - 6, hoạt động chủ yếu bằng các nghề lƣới rê và nghề câu khơi.
- Vùng đánh bắt ven bờ đƣợc giới hạn bởi mép nƣớc biển dọc theo bờ biển và tuyến bờ. Đối với các đảo, vùng ven bờ là vùng biển đƣợc giới hạn bởi ngấn nƣớc thủy triều trung bình nhiều năm quanh bờ biển của đảo đến 06 hải lý [19]. Vùng đánh bắt vùng ven bờ độ sâu nƣớc biển dƣới 20m sâu trở vào chủ yếu 7 là ngƣ trƣờng khai thác của các phƣơng tiện thủ công, các tàu thuyền có công suất nhỏ chuyên hoạt động bằng nghề ven bờ nhƣ xăm trủ, te giã ruốc, giã tôm, rê 3 lớp, khai thác nhuyễn thể. Các tàu làm nghề lƣới vây cá nổi nhỏ, nghề khai thác nhuyễn thể không bị giới hạn công suất khi hoạt động khai thác trong vùng biển ven bờ và vùng lộng.
Vùng nƣớc sâu từ 20 - 40m là ngƣ trƣờng khai thác chủ yếu của các loại tàu, thuyền gắn máy có công suất từ 20 - 60CV chuyên sử dụng các nghề lƣới vây; nghề lƣới vó, mành; nghề vó cố định; nghề chụp, giã kéo tôm cá, lừ bóng. Đặc điểm của nghề khai thác thủy sản - Nghề khai thác thủy hải sản phụ thuộc vào ngư trường: Ngƣ trƣờng là vùng biển có nguồn lợi hải sản tập trung đƣợc xác định để tàu cá đến khai thác. Mỗi loại ngƣ trƣờng có vị trí địa lý khác nhau, điều kiện địa hình, chế độ thuỷ triều khác nhau và nguồn thực vật, động vật phù du khác nhau do đó có trữ lƣợng nguồn lợi hải sản khác nhau. Vì vậy, xác định đúng ngƣ trƣờng là điều kiện hết sức cần thiết, là một trong những yếu tố quan trọng có tính quyết định năng suất khai thác của nghề cá hiện nay.
- Nghề khai thác thủy hải sản mang tính thời vụ: Ở vùng biển Việt Nam, thời tiết phân mùa rõ rệt do ảnh hƣởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam. Vào mùa xuân đa số các loài cá di cƣ vào những vùng nƣớc nóng gần bờ và ven các đảo, nơi có nhiệt độ và địa điểm phù hợp để sinh sản. Vào mùa hè một số loài vẫn tiến hành sinh sản, một số loài đã kết thúc giai đoạn đẻ rộ. Các loài cá nhỏ còn phân bố ở vùng gần bờ, các loài lớn di chuyển dần ra các vùng nƣớc sâu hơn.
Vào mùa thu và đông, do ảnh hƣởng của khí hậu lục địa, nhiệt độ vùng nƣớc gần bờ giảm thấp, các loài cá trƣởng thành di chuyển ra các vùng nƣớc sâu có nhiệt độ cao hơn. Vì vậy, hoạt động khai thác hải sản trên vùng biển Quảng Bình đƣợc chia thành 2 vụ chính: Vụ cá Nam bắt đầu từ tháng 4 đến hết tháng 8 cùng với gió mùa Tây Nam. Tuy thời gian ngắn nhƣng đây là vụ khai thác chính, có năng suất và sản lƣợng cao, các tàu cá tập trung khai thác hải sản vào mùa này. Sản lƣợng khai thác hải sản vụ cá Nam thƣờng chiếm từ 60 - 65% tổng sản lƣợng khai thác trong năm.
Vụ cá Bắc bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau cùng với gió mùa Đông Bắc các tàu cá thƣờng tập trung khai thác ở ngƣ trƣờng xa bờ. 8 - Khai thác thủy hải sản là nghề có độ rủi ro cao: Khai thác hải sản bắt buộc hoạt động xa đất liền, luôn ẩn chứa nhiều mối nguy hiểm đối với tính mạng và tài sản ngƣ dân, đặc biệt đối với vùng biển Việt Nam hiện tƣợng thời tiết diễn biến phức tạp, khó lƣờng. Môi trƣờng hoạt động khai thác hải sản rất khắc nghiệt, sóng to, gió lớn, tai nạn, sự cố,. làm chìm tàu thuyền, cuốn trôi ngƣ lƣới cụ, đe dọa đến sự an toàn tính mạng của ngƣ dân, nhất là đối với các tàu thuyền khai thác xa bờ.
Quá trình hoạt động của tàu thuyền trên biển còn bị tàu thuyền nƣớc ngoài bắt giữ trái phép, tƣớc đoạt tài sản…Vì vậy, cần tổ chức tốt hệ thống thông tin liên lạc, cảnh báo thiên tai, tổ chức ứng cứu kịp thời khi có rủi ro, bảo đảm an toàn cho ngƣ dân là yêu cầu hết sức cần thiết trong quá trình hoạt động của ngƣ dân trên biển. - Khai thác thủy hải sản chịu ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết: Với đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, hoạt động khai thác hải sản chỉ có thể tiến hành vào những lúc thời tiết thuận lợi, gió từ cấp 6 - 7 trở xuống. Vào những thời điểm này các loại phƣơng tiện khai thác, lao động nghề cá đƣợc huy động tối đa. Ngƣợc lại vào những lúc thời tiết xấu (biển động) các tàu thuyền phải neo đậu và trú, tránh ở các cảng, cửa sông, cửa lạch.
Nếu thời tiết bất lợi thì tàu thuyền không thể ra khơi khai thác có khi kéo dài nhiều tháng trong năm, ngoài việc không có thu nhập, các chủ phƣơng tiện còn phải lo bảo vệ, bảo dƣỡng máy móc, thiết bị tàu thuyền với chi phí khá lớn. L luận về dịch vụ hậu cần nghề cá 1. Khái niệm dịch vụ hậu cần nghề cá Dịch vụ hậu cần là khái niệm khá mới và đƣợc sử dụng rộng rãi tại Việt Nam trong những năm gần đây. Dịch vụ hậu cần đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tại Việt Nam và trên thế giới.
Theo từ điển bách khoa toàn thƣ (2004), dịch vụ hậu cần đƣợc hiểu là nghệ thuật và khoa học của quản lý và điều chỉnh luồng di chuyển của hàng hóa, năng lƣợng, thông tin và những nguồn lực khác nhƣ sản phẩm, dịch vụ và con ngƣời, từ nguồn lực của sản xuất đến thị trƣờng. Nó thể hiện sự hợp nhất của thông tin liên lạc, vận tải, tồn kho, lƣu kho, giao nhận nguyên liệu, bao bì, đóng gói. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1690/QĐ-TTg, ngày 9 16/9/2010 thì khái niệm DVHCNC đƣợc hiểu là: Hệ thống cảng cá, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền nghề cá; cơ khí đóng sửa tàu thuyền nghề cá; cơ sở cung cấp lƣới sợi, nƣớc đá, ngƣ cụ [18].