Luận Văn: Nghiên Cứu Kỹ Thuật Phát Hiện Đối Tượng Ảnh Dựa Trên Kết Cấu

Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu kỹ thuật phát hiện đối tượng ảnh dựa trên kết cấu. Ứng dụng trong công nghệ thông tin (Mã số: 1 01 10).

Chuyên ngành

Công nghệ thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2006

65
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾT CẤU VÀ PHÁT HIỆN ĐỐI TƢỢNG

1.1. Tổng quan về kết cấu và ứng dụng

1.2. Phát hiện đối tƣợng dựa vào kết cấu

2. CHƢƠNG 2: CÁC PHƢƠNG PHÁP BIỂU DIỄN KẾT CẤU

2.1. Biểu diễn hình học

2.2. Biểu diễn thống kê

2.3. Biểu diễn dựa vào mô hình

2.4. Biểu diễn dựa trên kỹ thuật xử lý tín hiệu

3. CHƢƠNG 3: ỨNG DỤNG

3.1. Phân tích bài toán

3.2. Thực nghiệm minh họa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Hiện Đối Tượng Ảnh Dựa Trên Kết Cấu

Phân tích kết cấu ảnh đóng vai trò then chốt trong thị giác máy tính. “Hiểu ảnh” chính xác là yếu tố quyết định thành công của hệ thống. Sử dụng màu sắc là một kỹ thuật phổ biến, tuy nhiên, thông tin kết cấu là cần thiết trong nhiều ứng dụng. Ví dụ, trong giám sát giao thôngkiểm tra chất lượng sản phẩm công nghiệp, kết cấu giúp tăng độ chính xác khi thông tin màu sắc không đủ. Trong các ứng dụng như điều khiển chất lượng sản xuất vải sợi hoặc so sánh ảnh mây vệ tinh, sử dụng thông tin kết cấu gần như bắt buộc. Kết cấu còn được ứng dụng trong phân tích ảnh y học, xác thực sinh trắc học, truy vấn ảnh dựa trên nội dung, phân tích tài liệumô hình hóa môi trường. Việc phát triển các mô tả kết cấu hiệu quả là một lĩnh vực nghiên cứu sôi động. Xét về mặt trực quan, kết cấu cung cấp thông tin phong phú về bề mặt tự nhiên. Tuy nhiên, phân tích kết cấubiểu diễn kết cấu hiệu quả vẫn là một thách thức do sự phức tạp và đa dạng của kết cấu tự nhiên. Luận văn này giới thiệu cơ sở lý thuyết và ứng dụng của biểu diễn thông tin kết cấu cho chức năng phát hiện đối tượng trong một hệ thống thị giác máy tính điển hình. Dựa trên đó, tiến hành thử nghiệm xây dựng một bộ các module chương trình cho việc phát hiện, phân loại đối tượng dựa vào kết cấu bề mặt của đối tượng. Theo [1, 3], việc kết hợp thông tin màu sắc và kết cấu giúp tăng độ chính xác trong nhiều ứng dụng. Theo [11], trong một số ứng dụng, sử dụng thông tin kết cấu là bắt buộc.

1.1. Định Nghĩa và Bản Chất của Kết Cấu Ảnh Image Texture

Kết cấu trong tự nhiên là một khái niệm chung, có nhiều định nghĩa. Theo từ điển Webster, kết cấu là “cấu trúc hoặc sự sắp xếp cơ sở...tạo nên một đối tượng”. Theo Oxford, nó là “sự tổ chức, cấu trúc, hoặc chất liệu...hình thành nên một đối tượng”. Hiểu một cách chung nhất, kết cấu là các tính chất bên ngoài, có thể nhìn thấy và tiếp xúc được của một đối tượng. Ví dụ: kết cấu của cát, khói, vân tay. Với con người, kết cấu liên quan đến các cấu trúc cục bộ của bề mặt được lặp lại về mặt không gian. Các cấu trúc này được hình thành từ các phần tử cơ bản (Primitives). Nó chứa thông tin quan trọng về sự sắp xếp cấu trúc của bề mặt. Trong xử lý ảnh số, kết cấu được thể hiện qua sự biến thiên về màu sắc và cường độ. Thông tin về sự khác nhau của các pixel cho phép xác định kết cấu. Tuy nhiên, chưa có định nghĩa chính xác về mặt toán học cho kết cấu trong ảnh số. Theo Haralick (1973) [1], “Kết cấu rất khó để có được một định nghĩa chính xác”. Cross & Jain (1983) đưa ra định nghĩa đơn giản hơn: “Chúng ta xem xét một kết cấu như là một ảnh hai chiều với tính chất tương đối chu kỳ và ngẫu nhiên”. Jain & Karu (1996) nhận xét: “Kết cấu mặc dù thiếu một định nghĩa chính xác nhưng lại có rất nhiều ứng dụng trong lĩnh vực thị giác máy tính”. Sự thiếu hụt lý thuyết cơ bản thống nhất làm cho phân tích kết cấu kém thuyết phục. Do đó, việc đánh giá chất lượng của các hệ thống sử dụng tính kết cấu mang tính kinh nghiệm. Tuy vậy, có rất nhiều nghiên cứu trong việc tạo và sử dụng các độ đo kết cấu trong các hệ thống thị giác máy tính.

1.2. Các Ứng Dụng Quan Trọng Của Phân Tích Kết Cấu Ảnh

Thông tin kết cấu đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực thị giác máy tính. Các kỹ thuật phân tích kết cấu tập trung vào việc tìm một mô tả kết cấu hiệu quả, tổng quát. Mục đích chính là để máy tính có thể sử dụng các thao tác toán học cho việc thay thế, so sánh cũng như chuyển đổi kết cấu. Các giải thuật phân tích kết cấu liên quan đến việc chọn lọc, xác định các đặc trưng kết cấu và biểu diễn chúng dưới một dạng mà máy tính có thể hiểu được. Các giải thuật khác nhau có các đặc trưng được chọn lọc và cách biểu diễn khác nhau. Các giải thuật sử dụng tiếp cận thống kê đặc tả kết cấu qua các thông kê tín hiệu của ảnh hay các tính chất phân bố không gian của tín hiệu ảnh. Các giải thuật sử dụng cách tiếp cận theo phổ của ảnh (Spectral) đặc tả kết cấu theo miền phổ. Các giải thuật tiếp cận theo mô hình kết cấu có cấu trúc đặc tả các kết cấu như là phân cấp theo sự sắp xếp không gian của các đối tượng cơ bản. Tương tự như mô hình xác suất, kết cấu được đặc tả dưới dạng hàm phân bố. Có 4 dạng ứng dụng chính của kết cấu: Phân loại kết cấu, phân đoạn kết cấu, tổng hợp kết cấu, và tạo hình ảnh từ kết cấu. Các kỹ thuật này đóng góp vào việc hiểu và ứng dụng ảnh trong nhiều lĩnh vực. Các nghiên cứu như [1, 10, 11, 12] tập trung vào việc tìm mô tả kết cấu hiệu quả cho các ứng dụng thị giác máy tính.

II. Vấn Đề Phát Hiện Đối Tượng Ảnh Dựa Vào Kết Cấu

Bài toán phát hiện đối tượng ảnh là tìm các đối tượng đã được định nghĩa trước trong ảnh [14]. Nó được xem như một ứng dụng của nhận dạng mẫu. Phát hiện đối tượng ảnh là một chức năng con trong các ứng dụng phân tích ảnhthị giác máy tính. Trong một hệ thống CV điển hình, các thành phần chính được sử dụng tuần tự: thu nhận ảnh, xử lý nâng cao chất lượng, phân đoạn ảnh, trích chọn đặc trưng, phân loại đối tượng và mô tả/giải thích kết quả. Nhiều ứng dụng CV đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực. Tùy vào ứng dụng cụ thể, các thành phần chính sẽ có sự thay đổi khác nhau. Cũng tùy vào từng ứng dụng mà chức năng phát hiện đối tượng được áp dụng một cách khác nhau. Ví dụ, trong một hệ thống giám sát giao thông, các đối tượng được phân loại dựa vào biên của chúng. Xe hơi hay xe tải sẽ được gán những nhãn khác nhau cho hệ thống để hệ thống có thể đưa ra những quyết định cuối cùng một cách chính xác. Trong trƣờng hợp này hệ thống phát hiện đối tƣợng có vai trò quan trọng trong việc phân loại các đối tƣợng phƣơng tiện giao thông một cách chính xác. Xét về tổng quát, chức năng cơ bản của hệ thống phát hiện đối tượng ảnh là xây dựng một bộ phân loại để xác định xem lớp đối tượng quan sát có nằm trong một phần của ảnh hay không. Để thực hiện công việc này, ta có thể xem công việc của chức năng phát hiện đối tượng ảnh bao gồm hai thành phần chính: xác định và biểu diễn đặc trưng từ đối tượng ảnh và phân loại đối tượng ảnh thành các đối tượng cho mục đích phát hiện đối tượng ảnh. [14] trình bày các kỹ thuật để xây dựng một bộ phân loại nhằm xác định lớp đối tượng trong ảnh.

2.1. Các Thành Phần Cốt Lõi Của Hệ Thống Phát Hiện Đối Tượng

Hệ thống phát hiện đối tượng gồm hai thành phần chính: xác định và biểu diễn đặc trưng, và phân loại đối tượng ảnh. Sau khi thu nhận ảnh, các đặc trưng của ảnh sẽ được hệ thống phát hiện đối tượng xác định. Các đặc trưng này được sử dụng để phân loại và phát hiện các đối tượng cần thiết bằng cách so sánh với các đặc trưng mẫu. Việc tìm phương pháp để biểu diễn đặc trưng hiệu quả là một nghiên cứu trọng tâm trong lĩnh vực thị giác máy tính. Tùy vào ứng dụng, có các kỹ thuật biểu diễn và xác định đặc trưng khác nhau. Các đặc trưng này phải đồng nhất về thể hiện như các đặc trưng mẫu trong cơ sở dữ liệu. Từ các biểu diễn đặc trưng, hệ thống có thể tính toán để phân loại và phát hiện các đối tượng cần thiết bằng các công cụ toán học thông thường. Các kỹ thuật biểu diễn đặc trưng thường được áp dụng dựa trên các đặc trưng dễ nhận thấy của ảnh như không gian, màu sắc, hình dạng và kết cấu. Các đặc trưng kết cấu thường được sử dụng kết hợp với các thành phần biểu diễn đặc trưng khác hoặc trong trường hợp đối tượng phát hiện chỉ mang thông tin kết cấu. Một số biểu diễn của đặc trưng kết cấu như phổ năng lượng Fourier, ma trận đồng khả năng, Tamura, Phân tích Wold, trường ngẫu nhiên Markov, các bộ lọc đa phân giải như biến đổi Gabor và biến đổi dạng sóng, các toán tử hình thái.

2.2. Phương Pháp Phân Loại Đối Tượng Ảnh Hiệu Quả Nhất

Sau khi xác định đặc trưng, bước tiếp theo là phân loại và phát hiện đối tượng cần. Khi số lượng mẫu lớn, cần các kỹ thuật khác nhau để hỗ trợ phân loại chính xác. Các kỹ thuật có thể đơn giản đến phức tạp, hoặc kết hợp nhiều bộ phân loại để tạo ra một bộ phân loại nhiều tầng. Theo [14], có hai loại kỹ thuật chính sử dụng mạng Neural trong phân loại: phân loại có giám sátphân loại không giám sát. Phân loại có giám sát yêu cầu thông tin về tập đối tượng mẫu để huấn luyện. Phân loại không giám sát không cần thông tin trước về đối tượng mẫu, hệ thống tự nhận ra thông tin. Trong [16], một số kỹ thuật phân loại thường dùng trong phân loại đối tượng được thể hiện rõ ràng hơn. Phân loại láng giềng gần nhất (Nearest Neighbor Classifiers): Giả sử rằng đối tượng mẫu đại diện cho mỗi lớp đã biết và đặc trưng biểu diễn của nó cho lớp thứ i là fij, j = 1. Với mỗi tính toán đặc trưng của đối tượng U chưa biết được biểu diễn bởi uj, j = 1. Để quyết định lớp nào là lớp chứa đối tượng, người ta tính toán độ tương tự của biểu diễn đặc trưng đối tượng với các điểm trong mỗi lớp của không gian đặc trưng và gán nó tới lớp có độ tương tự gần nhất. Phân loại Bayes (Bayesian Classifier): Phân loại Bayes được sử dụng cho phát hiện đối tượng khi phân bố của các đối tượng không dễ dàng nhận biết. Trong thực tế, với các giá trị vector dùng để tính các biểu diễn đặc trưng, có nhiều vector đặc trưng của các đối tượng khác nhau lại có giá trị trùng nhau. Lúc này biểu diễn của các lớp bằng các giá trị số nhiều chiều không hẳn đã phù hợp.

III. Biểu Diễn Kết Cấu Cho Phát Hiện Đối Tượng Ảnh

Việc biểu diễn đặc trưng đóng vai trò quan trọng trong thị giác máy tínhphát hiện đối tượng. Thông tin kết cấu là một thành tố quan trọng để lấy được các đặc trưng của đối tượng. Trong giám sát giao thôngkiểm tra chất lượng, thông tin kết cấu tăng độ chính xác khi thông tin màu sắc không đủ. Trong điều khiển chất lượng sản xuất vải sợi hoặc ảnh mây vệ tinh, sử dụng thông tin kết cấu là bắt buộc. Thông tin kết cấu cũng được sử dụng trong phân tích ảnh y học, xác thực sinh trắc học, truy vấn ảnh dựa trên nội dung, phân tích tài liệumô hình hóa môi trường. Khi thiết kế hệ thống phát hiện đối tượng, các công cụ và kỹ thuật thích hợp được chọn lọc để tối ưu cho từng bước của các thành phần hệ thống. Thực tế không có kỹ thuật nào phù hợp một cách tổng thể cho tất cả các ứng dụng trong việc phát hiện đối tượng. Việc sử dụng thông tin kết cấu cũng không phải là ngoại lệ.

3.1. Biểu Diễn Đối Tượng Hoặc Mô Hình Dựa Trên Kết Cấu Ảnh

Các đối tượng trong mô hình và cơ sở dữ liệu được biểu diễn theo kết cấu như thế nào? Biểu diễn đó có thể hiện chính xác thông tin kết cấu của bề mặt hay không? Các kết cấu mang tính trật tự cao (do con người tạo ra) có thể được thể hiện tốt bằng các kỹ thuật biểu diễn có cấu trúc. Trong khi đó, với các kết cấu dạng khói, lửa trong cảnh báo hỏa hoạn (kết cấu động), biểu diễn theo hướng có cấu trúc lại không thích hợp. Các kỹ thuật biểu diễn kết cấu ngẫu nhiên theo cách thống kê tỏ ra hữu dụng để biểu diễn theo dạng kết cấu động. Chương 2 sẽ trình bày rõ hơn về các kỹ thuật biểu diễn. Tuy nhiên, nhiều mô hình biểu diễn đối tượng có thể rất hữu dụng vì độ chính xác nó mang lại nhưng lại rất nặng nề về xử lý, nhất là trong các ứng dụng yêu cầu thời gian thực. Cách biểu diễn này có hữu dụng khi ảnh bị co giãn hoặc các đối tượng bị quay. Đối với từng loại ứng dụng phát hiện đối tượng dựa vào kết cấu, việc xác định được mô hình biểu diễn thông tin kết cấu thích hợp là vô cùng quan trọng. Chương 3 sẽ trình bày một phương pháp kết hợp cả tiếp cận có cấu trúc và tiếp cận thống kê để biểu diễn thông tin cấu trúc.

3.2. Các Phương Pháp Phát Hiện Đối Tượng Ảnh Dựa Trên Kết Cấu

Các đặc trưng kết cấu của đối tượng phù hợp với các mô hình kết cấu trong cơ sở dữ liệu như thế nào? Trong nhiều trường hợp, việc kết hợp nhiều đặc trưng và nhiều đối tượng khác nhau, với một phương pháp phân loại để phát hiện đối tượng toàn diện có thể dẫn đến việc chậm chạp trong xử lý bất kể tính hữu dụng của nó. Việc phát hiện đối tượng một cách nhanh chóng và chính xác đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng giữa độ phức tạp của các đặc trưng và hiệu quả của phương pháp phân loại. Các phương pháp phát hiện đối tượng cần phải được tối ưu hóa để đảm bảo thời gian xử lý đáp ứng được yêu cầu của các ứng dụng thời gian thực.

IV. Các Phương Pháp Biểu Diễn Kết Cấu Ảnh Hiệu Quả

Có rất nhiều phương pháp khác nhau được nghiên cứu để biểu diễn kết cấu trong lĩnh vực computer vision. Về cơ bản có hai cách tiếp cận khác nhau cho biểu diễn kết cấu: cấu trúcthống kê [1]. Trong cách tiếp cận cấu trúc, kết cấu được biểu diễn bằng các phần tử cơ bản trong cấu trúc của bề mặt và quy tắc sắp đặt của chúng. Cách tiếp cận này rất phù hợp cho những kết cấu bề mặt mà biểu diễn hình học của các phần tử cơ bản được sắp xếp, phân bố đều đặn và lặp lại một cách thường xuyên (kết cấu nhân tạo). Cách tiếp cận thống kê mô tả kết cấu bề mặt như là các phân bố thống kê của các mức xám các điểm trong ảnh. Theo một cách phân loại khác [18], việc biểu diễn thông tin kết cấu lại có thể phân theo bốn cách tiếp cận chính: biểu diễn kết cấu hình học, biểu diễn kết cấu thống kê, biểu diễn kết cấu dựa vào mô hìnhbiểu diễn kết cấu dựa trên kỹ thuật xử lý tín hiệu số.

4.1. Biểu Diễn Kết Cấu Hình Học và Ứng Dụng

Không phức tạp như các phương pháp thông kê với nhiều biểu diễn khác nhau, phương pháp biểu diễn kết cấu theo hình học dựa vào những đặc trưng hình học của các phần tử kết cấu cơ bản. Phương pháp này phù hợp nhất với các kết cấu bề mặt được sắp xếp một cách có chu kỳ xác định. Việc biểu diễn thông tin theo phương pháp hình học đơn thuần là việc xác định các phần tử cơ bản của kết cấu (Texel) và quy tắc sắp đặt của chúng trên bề mặt đối tượng. Các phần tử này được lặp đi lặp lại một cách có quy tắc, xác định hoặc ngẫu nhiên. Mỗi phần tử cơ bản này được cô lập bằng cách xác định một nhóm các điểm có thuộc tính không đổi nào đó. Các phần tử cơ bản này có thể được biểu diễn mức xám của chúng, bởi hình dạng, hoặc tính đồng nhất của một số đặc tính cục bộ như kích cỡ, hướng, hay lược đồ bậc hai (ma trận đồng khả năng). Quy tắc sắp đặt sẽ định nghĩa quan hệ không gian giữa các phần tử cơ bản. Quan hệ không gian này lại có thể được biểu diễn bởi các thuộc tính như liền kề, khoảng cách gần nhất, sự tuần hoàn. Trong truờng hợp các quy tắc sắp đặt này là xác định, kết cấu được xem như là mạnh.

4.2. Biểu Diễn Kết Cấu Thống Kê và Các Đặc Trưng Tamura

Với các bề mặt tự nhiên, các kết cấu được sắp xếp một cách ngẫu nhiên và không thể hoặc rất khó để tìm được quy tắc sắp đặt nào phù hợp để có thể biểu diễn một cách toán học và có thể lập trình được. Với các kết cấu loại này, một loạt các kỹ thuật mang tính thống kê được đề xuất để biểu diễn cho mô tả kết cấu một cách toán học [4, 5, 6, 7, 8]. Phương pháp thống kê phân tích sự phân bố không gian của các mức xám bằng cách tính toán các đặc trưng cục bộ tại mỗi điểm ảnh. Các dạng biểu diễn thống kê khác nhau của các đặc trưng cục bộ này sẽ được sử dụng để làm vector đặc trưng cho kết cấu. Phương pháp biểu diễn thống kê có thể phân ra thành biểu diễn bậc một, biểu diễn bậc hai, biểu diễn bậc cao hơn dựa vào số điểm ảnh định nghĩa đặc trưng cục bộ. Thống kê bậc một thường là các ước lượng thuộc tính thống kê như trung bình, phương sai của các giá trị mức xám của các điểm ảnh riêng lẻ mà không quan tâm đến quan hệ không gian giữa các điểm ảnh. Các thống kê bậc hai hoặc cao hơn, ước lượng các thuộc tính của hai hoặc nhiều giá trị các mức xám của các điểm ảnh có những quan hệ lẫn nhau nào đó giữa các điểm. Các biểu diễn đặc trưng như ma trận đồng xuất hiện hay sự khác nhau giữa các mức xám hay đặc trưng Tamura là những biểu diễn thống kê được sử dụng rộng rãi nhất.

V. Ứng Dụng Phát Hiện Lỗi Vải Sợi Dựa Trên Kết Cấu

Có rất nhiều ứng dụng của việc áp dụng thông tin kết cấu trong một hệ thống thị giác máy tính, trong đó nhiều kỹ thuật khác nhau được sử dụng cho việc phát hiện đối tượng. Một trong những khác nhau cơ bản trong các hệ thống phát hiện đối tượng là việc xác định và cách thức biểu diễn đặc trưng kết cấu, như đã nêu trong phần 1. Đa phần, việc sử dụng thông tin về màu sắc là cơ bản của tất cả các hệ thống. Các biểu diễn thông tin về hình dạngkết cấu thường được sử dụng để làm tăng thêm độ chính xác của hệ thống. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, thông tin màu sắc là không có hoặc chỉ sử dụng được rất ít, thông tin về hình dạng lại càng không tỏ ra hữu dụng. Các ứng dụng kiểm tra, điều khiển chất lượng sản phẩm công nghiệp như vải sợi hay phân loại các sản phẩm linh kiện điện tử là một trong số các ví dụ phải bắt buộc sử dụng thông tin về kết cấu. Để cụ thể hóa việc sử dụng thông tin về kết cấu như thế nào trong trong một hệ thống phát hiện đối tượng, luận văn này sẽ áp dụng các kỹ thuật mô tả, phân loại kết cấu đã trình bày ở trên để giải quyết vấn đề kiểm tra chất lượng sản phẩm vải sợi trong một dây chuyền công nghiệp.

5.1. Phân Tích Yêu Cầu Bài Toán Kiểm Tra Chất Lượng Vải Sợi

Yêu cầu cơ bản nhất của một hệ thống phát hiện đối tượng là các xử lý bên trong của ứng dụng phải đủ nhanh để đáp ứng yêu cầu về thời gian thực [11]. Vì thế, đối với các thành phần của hệ thống phải có sự tối ưu nhất định về mặt tốc độ. Về cơ bản, để thực hiện được sự tối ưu đó, các thành phần trong hệ thống như đã nêu trong phần 1.2 phải lần lượt được tối ưu hóa. Tức là việc tối ưu hóa tốc độ chia làm ba khối chính: việc tối ưu về việc trích chọn các đặc trưng, tối ưu về tập đặc trưng biểu diễn, và tối ưu về phương pháp phân loại. Các biểu diễn đặc trưng phải đủ tốt để thực hiện nhanh. Số chiều của vector đặc trưng sinh ra phải đủ nhỏ (thông thường sẽ thêm một bước giảm số chiều cho không gian đặc trưng). Thêm vào đó, các đặc trưng biểu diễn kết cấu phải có thể nhận dạng được các đối tượng kết cấu khi có các ảnh hưởng của thao tác ảnh như quay ảnh, co giãn ảnh, và thay đổi tỷ lệ xám của ảnh.

5.2. Xây Dựng Phương Pháp Biểu Diễn Kết Cấu Cho Vải Sợi

Để biểu diễn kết cấu của vải sợi, có thể sử dụng các phương pháp đã trình bày ở trên, bao gồm cả phương pháp cấu trúc, thống kê, dựa vào mô hình và dựa trên xử lý tín hiệu. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu về thời gian thực của ứng dụng, cần lựa chọn phương pháp phù hợp với đặc tính của vải sợi. Phương pháp Local Binary Pattern (LBP) có thể là một lựa chọn tốt vì nó kết hợp cả đặc trưng thống kê và cấu trúc, đồng thời có chi phí tính toán tương đối thấp. Các đặc trưng khác như ma trận đồng xuất hiện (Co-occurrence Matrices) hay các bộ lọc Gabor cũng có thể được xem xét, tùy thuộc vào độ phức tạp của kết cấu vải sợi và yêu cầu về độ chính xác của hệ thống. Việc kết hợp nhiều đặc trưng cũng có thể giúp cải thiện độ chính xác, nhưng cần cân nhắc đến chi phí tính toán.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾT CẤU VÀ PHÁT HIỆN ĐỐI TƯỢNG 1.1 Tổng quan về kết cấu và ứng dụng 1.1 Định nghĩa kết cấu Kết cấu (của bề mặt của vật thể) trong tự nhiên là một khái niệm chung mà ngƣời ta có thể quy cho mọi vật. Có khá nhiều định nghĩa về kết cấu của đối tƣợng trong tự nhiên. Theo từ điển Webster, 1986 kết cấu “Là cấu trúc hoặc một sự sắp xếp cơ sở, một kết hợp chặt chẽ của hầu hết các phần tử riêng lẻ tạo nên một đối tượng” Theo từ điển Oxford, 1989 “Là sự tổ chức, cấu trúc, hoặc chất liệu của bất kỳ những gì hình thành nên một đối tượng” Nói chung, ngƣời ta có thể hiểu một cách chung nhất kết cấu là các tính chất thể hiện ra bên ngoài có thể nhìn thấy và tiếp xúc đƣợc của một đối tƣợng nào đó. Nhiều ví dụ minh họa về kết cấu nhƣ kết cấu của cát, của khói, của vân tay ngƣời,… Đối với con ngƣời, thể hiện của kết cấu liên quan đến các cấu trúc cục bộ của bề mặt đƣợc lặp đi lặp lại về mặt không gian.

Các cấu trúc này đƣợc hình thành từ một hay một vài phần tử cơ bản (Primitives) riêng biệt. Nó chứa các thông tin quan trọng về sự sắp xếp cấu trúc của bề mặt. Kết cấu gạch Kết cấu vân tay Kết cấu mây Kết cấu đất Hình 1.1 : Ví dụ về kết cấu 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong lĩnh vực xử lý ảnh số, tính chất kết cấu của ảnh đƣợc thể hiện thông qua sự biến thiên về màu sắc và cƣờng độ của ảnh. Mặc dù không thể có thông tin về nguyên nhân sự biến thiên này nhƣng thông tin về sự khác nhau của của các pixel trong ảnh đã đƣa ra nhiều phƣơng pháp để xác định kết cấu của đối tƣợng.

Tuy nhiên từ trƣớc đến nay chƣa ai có thể đƣa ra đƣợc một định nghĩa chính xác về mặt toán học (định nghĩa cho xử lý số) cho kết cấu của đối tƣợng trong ảnh số. Theo [1], Haralick (1973):“Kết cấu rất khó để có được một định nghĩa chính xác”. Mƣời năm sau, Cross & Jain (1983) đƣa ra một định nghĩa đơn giản hơn:“ Chúng ta xem xét một kết cấu như là một ảnh hai chiều với tính chất tương đối chu kỳ và ngẫu nhiên”. Nhƣng mƣời ba năm sau việc định nghĩa kết cấu cũng không rõ ràng hơn: “Kết cấu mặc dù thiếu một định nghĩa chính xác nhưng lại có rất nhiều ứng dụng trong lĩnh vực thị giác máy tính (Jain & Karu 1996)”.

Với việc thiếu những lý thuyết cơ bản và thống nhất nhƣ vậy đã làm cho việc phân tích kết cấu kém thuyết phục và không đồng nhất ít ra là về mặt phƣơng pháp luận theo quan điểm của các nhà toán học. Và cũng do đó việc đánh giá chất lƣợng của các hệ thống sử dụng tính kết cấu của ảnh phần nhiều đều mang tính kinh nghiệm. Tuy vậy cũng có rất nhiều nghiên cứu trong việc tạo ra và sử dụng các độ đo kết cấu đƣợc áp dụng nhiều trong các hệ thống thị giác máy tính. Trong các nghiên cứu đó, việc đƣa ra các kỹ thuật sử dụng kết cấu phụ thuộc rất nhiều vào mô hình kết cấu đƣợc sử dụng và phân loại.

Một số tác giả đã phân loại kết cấu theo sự thể hiện của chúng. Một cách phân loại kết cấu hay đƣợc sử dụng là phân chia chúng thành hai nhóm chính, kết cấu ngẫu nhiên (Stochastic –hình 1.3) và kết cấu xác định đƣợc (Deterministic- hình 1. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: Ví dụ về kết cấu đƣợc xác định Hình 1.3: Ví dụ về kết cấu ngẫu nhiên Trong [2], theo cách phân chia này Tamura (1978) đƣa ra các đặc trƣng mà các hệ thống phân tích kết cấu thƣờng hay sử dụng, gọi tắt là các đặc trƣng Tamura, các đặc tính quan trọng nhất của kết cấu cho hệ thống hình dung của con ngƣời là tính giống đường (Line-likeness), tính trật tự (Regularity), tính gồ ghề (Roughness), tính thô ráp (Coarseness), tính tương phản (Contrast), tính có hướng (Directionality). Ngoài ra theo cách phân loại kết cấu của Rao & Lohse (1993) dựa trên ba chiều trực giao là sự lặp lại – sự không lặp, sự vô hƣớng với sự tƣơng phản cao - có hƣớng với sự tƣơng phản thấp, độ mịn – độ hạt của kết cấu, kết cấu đƣợc phân chia theo sự đồng nhất về không gian của chúng thành ba loại: kết cấu đồng nhất, kết cấu đồng nhất yếu (hình 1.4), kết cấu không đồng nhất.

Dựa trên cách phân loại này một số độ đo kết cấu (Texture Measures) đã đƣợc nghiên cứu và áp dụng cho các hệ thống thị giác máy tính [1]. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4: Ví dụ về kết cấu đồng nhất yếu 1.2 Các ứng dụng của kết cấu Trong lĩnh vực thị giác máy tính thông tin kết cấu đóng một vai trò quan trọng. Trong hầu hết các ứng dụng, các kỹ thuật đƣợc phát triển cho việc phân tích kết cấu tập trung vào việc tìm một mô tả kết cấu một cách hiệu quả, tổng quát [ 1, 10, 11, 12]. Mục đích chính là để cho máy tính có thể sử dụng các thao tác toán học cho việc thay thế, so sánh cũng nhƣ chuyển đổi kết cấu.

Các giải thuật phân tích kết cấu hầu hết liên quan đến việc chọn lọc, xác định các đặc trƣng kết cấu và biểu diễn các đặc trƣng này dƣới một dạng mà máy tính có thể hiểu đƣợc. Các giải thuật khác nhau có các đặc trƣng đƣợc chọn lọc và cách biểu diễn các đặc trƣng của kết cấu khác nhau. Với các giải thuật sử dụng tiếp cận thống kê, chúng đặc tả kết cấu qua các thông kê tín hiệu của ảnh hay các tính chất phân bố không gian của tín hiệu ảnh. Với các giải thuật sử dụng cách tiếp cận theo phổ của ảnh (Spectral), chúng đặc tả kết cấu theo miền phổ.

Các giải thuật tiếp cận theo mô hình kết cấu có cấu trúc, chúng đặc tả các kết cấu nhƣ là phân cấp theo sự sắp xếp không gian của các đối tƣợng cơ bản. Cũng tƣơng tự nhƣ mô hình xác suất cho giải thuật phân tích kết cấu. kết cấu đƣợc đặc tả dƣới dạng hàm phân bố. Có 4 dạng ứng dụng chính của kết cấu dựa trên các kỹ thuật phân tích kết cấu vừa nêu.

10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com  Phân loại kết cấu Phân loại kết cấu là các ứng dụng gán mỗi kết cấu đã cho tới các lớp kết cấu khác nhau đƣợc định nghĩa trƣớc. Có hai phƣơng pháp phân loại kết cấu chính là phân loại có giám sát (Supervised) và phân loại không giám sát (Unsupervised). Phân loại kết cấu có giám sát là kỹ thuật có cung cấp các ví dụ mẫu về các lớp kết cấu nhƣ là một tập huấn luyện, bộ phân loại sẽ sử dụng các mẫu này để học về tính chất của kết cấu. Phân loại không giám sát không yêu cầu tri thức về các mẫu huấn luyện cho trƣớc.

Nó có thể tự động nhận ra các lớp khác nhau từ các mẫu đầu vào. Một loại phân loại kết cấu khác ít khi đƣợc sử dụng là phân loại kết cấu nửa giám sát (Semi-supervised), loại phân loại này yêu cầu một phần nhỏ tri thức cần phải biết trƣớc cho nhận dạng. Quá trình phân loại bao gồm hai trạng thái chính. Thứ nhất là quá tình xác định các đặc trƣng của kết cấu, tùy vào từng ứng dụng sẽ có các cách lấy đặc trƣng khác nhau sao cho phù hợp và chính xác với mỗi loại kết cấu.

Các đặc trƣng này sẽ đƣợc biểu diễn dƣới dạng các độ đo đặc trƣng. Việc chọn các đặc trƣng là đặc biệt quan trọng và thƣờng phải đảm bảo các yêu cầu về sự không thay đổi với các thao tác chuyển ảnh nhƣ dịch ảnh, quay ảnh, hay phóng to, thu nhỏ ảnh. Lý tƣởng nhất là các độ đo định lƣợng của kết cấu đầu vào gần một cách tối đa với độ đo của các kết cấu tƣơng tự. Tuy nhiên việc thiết kế một bộ xác định kết cấu có khả năng ứng dụng một cách tổng thể là một vấn đề khó và nó thƣờng yêu cầu một số tri thức trong các lĩnh vực hẹp.

Trạng thái thứ hai là quá trình phân loại, bộ phân loại sẽ dựa trên các độ đo đặc trƣng để phân các kết cấu đầu vào vào các lớp thích hợp. Bộ phân loại đƣợc xem nhƣ một hàm với đầu vào độ đo của các đặc trƣng của kết cấu đầu vào và đầu ra là lớp kết cấu tƣơng ứng. Trong phân loại có giám sát ngƣời ta thƣờng sử dụng bộ phân loại K láng giềng gần nhất (K-nearest neighbour). Đây là bộ phân loại mà kết cấu đầu vào đƣợc xác định bằng cách tính toán khoảng cách với K trƣờng hợp huấn luyện gần nhất.

Hàm khoảng cách đƣợc tính toán dựa trên không gian đặc trƣng nhiều 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các khoảng cách Euclidean, Chi-square, và Kullback-Leibler là các khoảng cách đƣợc sử dụng chính để đo độ tƣơng tự của hai vector đặc trƣng. Đây là các phƣơng pháp phân loại không tham số. Một số phƣơng pháp phân loại khác dựa vào giả thiết về sự phân bố xác suất của vector đặc trƣng thƣờng đƣợc gọi với tên phân loại có tham số.

Phân loại kết cấu có thể sắp xếp các dữ liệu ảnh thành các thông tin có thể hiểu đƣợc một cách dễ dàng. Điều này làm cho nó có nhiều ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực nhƣ truy vấn ảnh dựa vào nội dung, các ứng dụng ảnh y học, các ứng dụng kiểm tra chất lƣợng công nghiệp hay các ứng dụng về nhận dạng vân tay, mặt ngƣời, tròng mắt trong các ứng dụng về an ninh sinh trắc học …  Phân đoạn kết cấu Phân đoạn kết cấu là các loại ứng dụng phân chia một ảnh thành các vùng riêng biệt dựa vào thuộc tính kết cấu của bề mặt của các vùng. Các vùng này là các vùng có cùng một thuộc tính kết cấu nào đó. Kết quả của quá trình phân đoạn dựa vào kết cấu có thể làm đầu vào cho các quá trình xử lý và phân tích ảnh về sau (chẳng hạn nhƣ nhận dạng đối tƣợng).

Cũng nhƣ quá trình phân loại kết cấu, phân đoạn kết cấu cũng gồm hai trạng thái chính là xác định các độ đo đặc trƣng và sử dụng các thông số để cô lập các kết cấu. Tuy nhiên việc phân đoạn các kết cấu phải làm thêm việc dò đƣợc biên của các kết cấu đã đƣợc nhận dạng. Các kỹ thuật phân đoạn kết cấu cũng có thể là giám sát hoặc không giám sát phụ thuộc vào thông tin đƣợc biết trƣớc của ảnh hoặc các lớp kết cấu sẵn có.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ