Pháp Luật Về Tổ Chức Công Đoàn Cơ Sở Trong Bối Cảnh Việt Nam Tham Gia Hiệp Định CPTPP

Bài viết phân tích pháp luật về tổ chức công đoàn cơ sở tại Việt Nam trong bối cảnh tham gia hiệp định CPTPP, nêu rõ thách thức và cơ hội.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

72
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Pháp Luật Về Tổ Chức Công Đoàn Cơ Sở Tại Việt Nam

Pháp luật về tổ chức công đoàn cơ sở (CĐCS) tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động. CĐCS là tổ chức đại diện cho quyền lợi hợp pháp của người lao động, giúp họ có tiếng nói trong quan hệ lao động. Trong bối cảnh Việt Nam tham gia Hiệp định CPTPP, việc hoàn thiện pháp luật về CĐCS trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Hiệp định này không chỉ tạo ra cơ hội mà còn đặt ra nhiều thách thức cho tổ chức công đoàn tại Việt Nam.

1.1. Khái Niệm Tổ Chức Công Đoàn Cơ Sở Tại Việt Nam

Tổ chức công đoàn cơ sở là tổ chức đại diện cho người lao động tại doanh nghiệp. Theo quy định của pháp luật, CĐCS có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động, tham gia vào quá trình thương lượng và ký kết hợp đồng lao động. CĐCS cũng có vai trò quan trọng trong việc giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật về lao động.

1.2. Vai Trò Của Công Đoàn Cơ Sở Trong Doanh Nghiệp

CĐCS không chỉ là cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động mà còn là tổ chức bảo vệ quyền lợi của người lao động. Công đoàn cơ sở giúp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

II. Thách Thức Đối Với Pháp Luật Về Công Đoàn Cơ Sở Khi Tham Gia CPTPP

Việc tham gia CPTPP mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức cho pháp luật về tổ chức CĐCS tại Việt Nam. Các quy định trong CPTPP yêu cầu Việt Nam phải cải cách pháp luật lao động, trong đó có tổ chức công đoàn. Điều này đòi hỏi sự thay đổi trong cách thức hoạt động của CĐCS để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.

2.1. Những Thách Thức Chính Đối Với CĐCS Tại Việt Nam

Một trong những thách thức lớn nhất là việc đảm bảo quyền tự do thành lập và gia nhập công đoàn cho người lao động. CPTPP yêu cầu Việt Nam phải tạo điều kiện cho việc thành lập nhiều tổ chức đại diện cho người lao động, điều này có thể làm thay đổi cấu trúc của CĐCS hiện tại.

2.2. Hạn Chế Trong Việc Thực Thi Quyền Lợi Của Người Lao Động

Mặc dù pháp luật đã có những quy định về quyền lợi của người lao động, nhưng việc thực thi còn gặp nhiều khó khăn. CĐCS cần phải có cơ chế hoạt động hiệu quả hơn để bảo vệ quyền lợi của người lao động trong bối cảnh CPTPP.

III. Phương Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Tổ Chức Công Đoàn Cơ Sở

Để đáp ứng yêu cầu của CPTPP, Việt Nam cần có những phương pháp cải cách pháp luật về tổ chức CĐCS. Việc hoàn thiện này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của người lao động mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn.

3.1. Cải Cách Pháp Luật Lao Động Để Tăng Cường Quyền Lợi Của Người Lao Động

Cần thiết phải sửa đổi các quy định trong Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn để đảm bảo quyền tự do thành lập và gia nhập công đoàn cho người lao động. Điều này sẽ giúp tạo ra môi trường làm việc công bằng và bình đẳng hơn.

3.2. Xây Dựng Cơ Chế Tài Chính Cho Công Đoàn Cơ Sở

Việc xây dựng cơ chế tài chính vững mạnh cho CĐCS là rất quan trọng. Cần có các chính sách hỗ trợ tài chính để CĐCS có thể hoạt động hiệu quả, từ đó bảo vệ quyền lợi của người lao động tốt hơn.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Pháp Luật Về Tổ Chức Công Đoàn Cơ Sở

Việc áp dụng pháp luật về tổ chức CĐCS trong thực tiễn là rất quan trọng để đảm bảo quyền lợi của người lao động. Các tổ chức công đoàn cần phải hoạt động tích cực hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, đồng thời tham gia vào các hoạt động xã hội.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tổ Chức Công Đoàn Cơ Sở

Nghiên cứu cho thấy rằng CĐCS đã có những đóng góp tích cực trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả hoạt động của CĐCS.

4.2. Các Mô Hình Hoạt Động Hiệu Quả Của CĐCS

Một số mô hình hoạt động của CĐCS đã được áp dụng thành công tại một số doanh nghiệp, giúp nâng cao đời sống của người lao động. Cần nhân rộng các mô hình này để phát huy hiệu quả hơn nữa.

V. Kết Luận Về Pháp Luật Về Tổ Chức Công Đoàn Cơ Sở Trong Bối Cảnh CPTPP

Pháp luật về tổ chức CĐCS tại Việt Nam cần được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của CPTPP. Việc cải cách này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của người lao động mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn. Tương lai của CĐCS sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các quy định quốc tế và nhu cầu thực tiễn.

5.1. Tương Lai Của Tổ Chức Công Đoàn Cơ Sở Tại Việt Nam

Tổ chức công đoàn cơ sở cần phải đổi mới để phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế. Việc này sẽ giúp CĐCS phát huy vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động.

5.2. Những Kiến Nghị Để Hoàn Thiện Pháp Luật Về CĐCS

Cần có những kiến nghị cụ thể để hoàn thiện pháp luật về tổ chức CĐCS, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức này trong bối cảnh CPTPP.

02/07/2025
Pháp luật về tổ chức cđcs trong bối cảnh việt nam tham gia hiệp định cptpp cptpp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ VÀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (CPTPP) 1. Khái quát pháp luật về tổ chức công đoàn cơ sở 1. Khái niệm tổ chức công đoàn cơ sở Lao động là hoạt động cơ bản của loài người trong tiến trình phát triển. Trong quá trình lao động, con người có mối liên hệ mật thiết với nhau.

Quan hệ giữa người với người trong lao động được gọi là quan hệ lao động (QHLĐ). Về khía cạnh pháp lý, QHLĐ là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ, NSDLĐ, các tổ chức đại diện của các bên và cơ quan nhà nước có thẩm quyền2. Đây là quan hệ giữa NLĐ, tổ chức đại diện NLĐ với NSDLĐ, tổ chức đại diện NSDLĐ, được xác lập trên cơ sở pháp luật lao động bao gồm các tiêu chuẩn về lao động, cơ chế xác lập và vận hành QHLĐ, thiết chế giải quyết tranh chấp lao động, vai trò của các bên trong QHLĐ. Trong nền kinh tế thị trường, QHLĐ là quan hệ vừa mang tính chất kinh tế, vừa mang tính chất xã hội; vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn; vừa bình đẳng, vừa không bình đẳng; vừa mang tính chất cá nhân, vừa mang tính chất tập thể3.

Đặc biệt, QHLĐ có một đặc trưng cơ bản là tính quản lý, điều hành, giám sát của NSDLĐ đối với NLĐ. Xuất phát từ đặc trưng này, NLĐ có nghĩa vụ phải chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động; tuân theo sự bố trí, quản lý, điều động từ phía NSDLĐ. Do tính tất yếu khách quan, trong mối quan hệ với NSDLĐ, NLĐ luôn ở vị trí yếu thế hơn và phụ thuộc vào NSDLĐ. Do đó, nhằm tạo ra QHLĐ được bình đẳng, hài hoà, tránh sự lạm quyền, gây sức ép từ phía NSDLĐ thì xuất hiện nhu cầu thành lập ra tổ chức đại diện NLĐ.

Sự thành lập của tổ chức đại diện NLĐ là một phong trào lớn trên thế giới, xuất hiện tại châu Âu vào đầu thế kỷ XIX đồng thời với cuộc cách mạng kỹ nghệ, khi NLĐ có nhu cầu cần được bảo vệ trước sức mạng của NSDLĐ và tự ý thức được giá trị sức mạnh tập thể4. 2 Khoản 5 Điều 3 BLLĐ năm 2019. 3 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2017), Báo cáo QHLĐ, Hà Nội, tr. 4 Lê Thị Hoài Thu (2018), “Hoàn thiện pháp luật về tổ chức đại diện lao động khi Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương”, Tạp chí Luật học, số 04, tr.

9 Quyền thành lập tổ chức đại diện NLĐ được ghi nhận tại nhiều văn kiện pháp lý như Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (UDHR) năm 19485, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) năm 19666 và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội (ICESCR) năm 19667. Đặc biệt, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã ghi nhận quyền này tại Tuyên bố về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động năm 1998, cụ thể tại Công ước số 87 năm 1948 về Tự do liên kết và bảo vệ quyền tổ chức (Công ước số 87), Công ước số 98 năm 1949 về Áp dụng những nguyên tắc của Quyền tổ chức và thương lượng tập thể (Công ước số 98). Điều 2 Công ước số 87 quy định “NLĐ và NSDLĐ, không phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào đều không phải xin phép trước mà vẫn có quyền được tổ chức và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình, với một điều kiện duy nhất là phải tuân theo Điều lệ của chính tổ chức đó”. Theo đó, ILO ghi nhận NLĐ được quyền tự mình tham gia, thành lập, gia nhập vào tổ chức theo điều lệ của tổ chức nhằm xúc tiến và bảo vệ lợi ích của họ.

Ngoài ra, Công ước số 87 còn cho phép các tổ chức của NLĐ và của NSDLĐ lập ra điều lệ, những quy tắc quản lý, tự do bầu các đại diện, tổ chức việc điều hành hoạt động và soạn thảo chương trình của mình. Qua đây, có thể hiểu tổ chức đại diện NLĐ là “một hiệp hội của những người làm công ăn lương có mục đích duy trì hay cải thiện các điều kiện thuê mướn họ, hoặc là nghiệp đoàn của những người công nhân”8. Với nhu cầu tất yếu như trên, tại Việt Nam, tổ chức công đoàn cũng hình thành và phát triển từ sớm với tiền thân là Công hội đỏ Bắc Kỳ. Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung và quyền của NLĐ nói riêng ngày càng được coi trọng, vai trò Công đoàn Việt Nam càng được thể hiện.

Công đoàn Việt Nam ra đời với mục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và những 5 Khoản 4 Điều 23 UDHR: “Tất cả mọi người đều có quyền, cùng với người khác, thành lập các công đoàn hay gia nhập vào các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”. 6 Khoản 1 Điều 22, ICCPR: “Mọi người có quyền tự do hiệp hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”. 7 Khoản 1 Điều 8 ICESCR: “Các quốc gia thành viên của Công ước cam kết đảm bảo quyền của mọi người được thành lập và gia nhập công đoàn mà mình lựa chọn, để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình, với điều kiện là chỉ phải tuân theo quy chế của tổ chức công đoàn đó”.org/wiki/C%C3%B4ng_%C4%91o%C3%A0n, truy cập ngày 14/11/2021. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định rõ tại Điều 10: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của NLĐ được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho NLĐ, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của NLĐ; tuyên truyền, vận động NLĐ học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”9.

Hiện nay, theo Khoản 3 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 (viết tắt là BLLĐ năm 2019) thì tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở tại Việt Nam không chỉ có duy nhất tổ chức công đoàn. Cụ thể, “tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của NLĐ tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ trong QHLĐ thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động. Tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở (CĐCS) và tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp”. Đồng thời, Điều 4 Luật Công đoàn năm 2012 (viết tắt là LCĐ năm 2012) quy định “CĐCS là tổ chức cơ sở của công đoàn, tập hợp đoàn viên công đoàn trong một hoặt một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, được công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở công nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều lệ Công đoàn Việt Nam.

Như vậy, có thể đưa ra một khái niệm về CĐCS như sau: “CĐCS là một trong những tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở, được thành lập tự nguyện nhằm chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ trong QHLĐ. CĐCS là tổ chức cơ sở của công đoàn, nơi trực tiếp tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn”. Vai trò của Công đoàn cơ sở Vai trò của CĐCS thể hiện sự tác động của tổ chức đến quá trình phát triển của nhiều mặt của quốc gia, thể hiện trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, tư tưởng. 9 Theo Điều 10, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

11 Thứ nhất, trong lĩnh vực chính trị: Với vị trí là tổ chức chính trị - xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, CĐCS phát huy vai trò trong việc xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, củng cố và xây dựng bộ máy nhà nước. CĐCS tham gia xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, là nền tảng cho khối đại đoàn kết dân tộc. CĐCS là cầu nối để đưa Đảng gần với NLĐ, nâng cao tư tưởng chính trị, tinh thần yêu nước cho NLĐ, góp phần ổn định chính trị, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế. Công đoàn có vai tṛ trong Thứ hai, trong lĩnh vực kinh tế: CĐCS tham gia vào công tác quản lý kinh tế thể hiện qua hoạt động kiểm tra, đẩy mạnh nguyên tắc tập trung dân chủ, góp phần củng cố và phát triển những thành tựu đã đạt được về kinh tế văn hoá và khoa học kỹ thuật.

CĐCS tham gia giải quyết việc làm, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho NLĐ. Đây là yếu tố quan trọng giúp phát huy nội lực phát triển kinh tế tại doanh nghiệp, nhằm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá, từng bước đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập quốc tế. Trong QHLĐ, sự hiện diện của công đoàn có vai trò quan trọng, là cầu nối giữa NLĐ và NSDLĐ trong QHLĐ, đồng thời là tổ chức đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ - người có vị thế yếu thế so với NSDLĐ trong QHLĐ10. CĐCS đi sâu vào đời sống NLĐ, từ đó nắm vững tâm tư, nguyện vọng của họ, quan tâm đến vấn đề tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, an toàn, vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường, giải quyết những khúc mắc của NLĐ với doanh nghiệp và tham gia ý kiến với doanh nghiệp trong việc đảm bảo các lợi ích chính đáng của NLĐ.

Đây là tiền đề để NLĐ an tâm sản xuất, tạo ra năng suất lao động tối đa. Không chỉ vậy, CĐCS còn hỗ trợ cho NSDLĐ như phối hợp cùng NSDLĐ xây dựng thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, giúp doanh nghiệp sắp xếp lao động, thay đổi cơ cấu một cách hiệu quả, phát huy nguồn lực lao động. Trong những trường hợp phát sinh tranh chấp giữa NLĐ và NSDLĐ, CĐCS sẽ tổ chức đối thoại nhằm dung hòa lợi ích của các bên với tư cách là một chủ thể độc lập, trung gian giải quyết tranh chấp lao động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Pháp Luật Về Tổ Chức Công Đoàn Cơ Sở Trong Bối Cảnh CPTPP Tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và chức năng của tổ chức công đoàn cơ sở trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là sau khi Việt Nam tham gia CPTPP. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, đồng thời cũng chỉ ra những thách thức mà tổ chức này phải đối mặt trong môi trường làm việc hiện đại.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách thức tổ chức và hoạt động của công đoàn, cũng như những lợi ích mà nó mang lại cho người lao động và doanh nghiệp. Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Pháp luật về tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp, nơi cung cấp thông tin chi tiết về quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động trong doanh nghiệp.

Ngoài ra, tài liệu Pháp luật về thỏa ước lao động tập thể và thực tiễn thực hiện ở một số doanh nghiệp thuộc ngành dệt may việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các thỏa thuận lao động tập thể và cách chúng ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.

Cuối cùng, tài liệu Giải quyết tranh chấp kỷ luật lao động sa thải theo pháp luật việt nam hiện nay sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình giải quyết tranh chấp liên quan đến kỷ luật lao động, một vấn đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Những tài liệu này không chỉ giúp bạn nắm bắt thông tin mà còn mở rộng hiểu biết về các khía cạnh pháp lý liên quan đến tổ chức công đoàn và quyền lợi của người lao động.