Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống tài chính công, thuế trực thu giữ vị trí thiết yếu nhằm tạo lập nguồn thu ngân sách nhà nước, đồng thời thực hiện chức năng điều tiết thu nhập và bảo đảm công bằng xã hội. Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là sắc thuế trực thu quan trọng, có độ co giãn theo thu nhập tương đối lớn và tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội. Lịch sử áp dụng thuế thu nhập trên thế giới đã ghi nhận từ sớm (Hà Lan năm 1797, Anh năm 1799, Phổ năm 1808, Hoa Kỳ năm 1864, Thái Lan năm 1939, Philippines năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, Indonesia năm 1949, Trung Quốc năm 1980). Tại Việt Nam, tiền thân của sắc thuế này là thuế lợi tức lương bổng (năm 1962), chuyển thành thuế thu nhập cá nhân (năm 1972) và tiếp đó là Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ban hành ngày 27/12/1990 (trải qua năm lần sửa đổi, bổ sung). Để khắc phục các hạn chế cũ, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2009), sau đó được sửa đổi, bổ sung qua Luật số 26/2012/QH13 và Luật số 71/2014/QH13.
Mặc dù hệ thống pháp luật thuế TNCN hiện hành đã xác lập hành lang pháp lý tương đối toàn diện, song thực tiễn vận hành cho thấy nhiều quy định bộc lộ sự bất cập trước biến động kinh tế - xã hội, đặc biệt trong giai đoạn sau đại dịch Covid-19. Những hạn chế về ngưỡng khởi điểm chịu thuế, khoảng cách bậc lũy tiến, mức giảm trừ gia cảnh cào bằng và ngưỡng doanh thu chịu thuế của cá nhân kinh doanh chưa theo kịp biến động chỉ số giá tiêu dùng, mức sống tối thiểu và tiền lương thực tế. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tác giả Đinh Hồng Hạnh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Kinh tế tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024) với đề tài: "Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện".
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ bản chất pháp lý cơ bản của thuế TNCN, phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam; từ đó chỉ ra những ưu điểm, vướng mắc để đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật cùng giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành. Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về thuế thu nhập cá nhân và pháp luật về thuế thu nhập cá nhân.
- Phân tích quy định của pháp luật hiện hành về thuế thu nhập cá nhân và đánh giá những ưu điểm, bất cập còn tồn tại.
- Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trên thực tế, đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế cần sửa đổi, khắc phục.
- Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trên thực tế.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống pháp luật về thuế TNCN tại Việt Nam (bao gồm các luật, nghị định, thông tư và văn bản hướng dẫn thi hành), thực trạng áp dụng pháp luật trên thực tiễn cùng các ý kiến đóng góp, kiến nghị từ chuyên gia, cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế. Phạm vi nghiên cứu về mặt lập pháp bao quát từ Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 1990, Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007, Luật số 26/2012/QH13, Luật số 71/2014/QH13, Luật Quản lý thuế năm 2019 đến các văn bản hướng dẫn thi hành; đồng thời mở rộng so sánh, đối chiếu với pháp luật thuế TNCN của Trung Quốc, Hoa Kỳ và Singapore. Về mặt thực tiễn, đề tài giới hạn việc đánh giá tình hình thi hành pháp luật thuế TNCN tại Việt Nam trong giai đoạn biến động kinh tế - xã hội gần đây.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận và pháp lý, nghiên cứu tiếp cận khái niệm thuế từ các góc độ học thuyết kinh tế - chính trị và quy định thực định. Khóa luận dẫn chiếu quan điểm của V.I. Lênin (thuế là khoản nhà nước thu của dân không bù lại, trích từ tư bản hoặc thu nhập), định nghĩa kinh điển của Gaston Jèze trong tác phẩm Tài chính công (thuế là khoản đóng góp bằng tiền có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do công dân nộp qua quyền lực công nhằm bù đắp chi tiêu nhà nước), và định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 Luật Quản lý thuế năm 2019. Về khái niệm thu nhập, tác giả phân tích quan điểm kinh tế học của Robert Murray Haig và Henry Calvert Simons (thu nhập là giá trị tiềm năng thực tế trong khả năng tiêu dùng của cá nhân trong một thời kỳ), quan điểm của Paul Anthony Samuelson (tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp trong một khoảng thời gian), định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt và Từ điển Luật học; từ đó tiếp thu định nghĩa của Giáo trình Luật Thuế Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2023) xác định thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào một số khoản thu nhập cao chính đáng của cá nhân nhằm điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội và tăng thu ngân sách nhà nước.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng làm cơ sở phân tích trực tiếp gồm:
- Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân số 26/2012/QH13; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13.
- Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14.
- Nghị định số 126/2020/NĐ-CP; Nghị định số 38/2022/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
- Thông tư số 111/2013/TT-BTC; Thông tư số 105/2020/TT-BTC; Thông tư số 40/2021/TT-BTC; Thông tư số 80/2021/TT-BTC; Công văn số 883/TCT-DNNCN của Tổng cục Thuế.
- Nghị quyết số 406/2021/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về ban hành một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch Covid-19.
- Cơ sở pháp lý nước ngoài: Bộ luật Thuế thu nhập Hoa Kỳ (Internal Revenue Code - Title 26 USC); Luật Thuế thu nhập cá nhân nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; Đạo luật Thuế thu nhập Singapore (quản lý bởi Cục Thuế Singapore - IRAS).
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế và quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính công. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai gồm: phương pháp liệt kê (thu thập, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và số liệu thực tế), phương pháp so sánh - đối chiếu (so sánh quy định của Việt Nam qua các thời kỳ và đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp của Trung Quốc, Hoa Kỳ, Singapore), phương pháp phân tích - tổng hợp (đánh giá cấu trúc các điều luật, chỉ ra bất cập và luận giải giải pháp hoàn thiện).
Nguồn dữ liệu của khóa luận được trích xuất từ các văn bản luật thực định, số liệu báo cáo của Tổng cục Thống kê (Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2023), số liệu của Tổng cục Thuế, Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính, Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính, cùng các công trình luận văn, bài báo khoa học chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thuế thu nhập cá nhân và pháp luật về thuế thu nhập cá nhân
Chương 1 tập trung làm sáng tỏ bản chất, đặc điểm, vai trò của thuế TNCN, khái quát khung nội dung pháp luật điều chỉnh và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế. Tác giả khái quát bốn đặc điểm nổi bật của thuế TNCN: (1) Tính trực thu - chủ thể nộp thuế đồng thời là chủ thể chịu thuế, khấu trừ trực tiếp từ thu nhập mà không thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ; (2) Đối tượng chịu thuế là thu nhập thuộc diện chịu thuế của cá nhân, hộ gia đình (phát sinh hợp pháp, có tính phổ biến và nhà nước kiểm soát được); (3) Tính thiếu ổn định và phức tạp do biến động thu nhập của người lao động phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế; (4) Nguồn luật điều chỉnh bao gồm cả pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế (các hiệp định tránh đánh thuế hai lần). Về vai trò, sắc thuế này giữ ba chức năng: bảo đảm công bằng xã hội thông qua biểu thuế lũy tiến và giảm trừ gia cảnh; bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước (chiếm khoảng 10,92% tổng thu NSNN các năm 2022 và 2023, số thu năm 2021 vượt dự toán hơn 14%, năm 2022 vượt dự toán 38%); và điều tiết kinh tế vĩ mô, hỗ trợ nhà nước kiểm soát thu nhập bất hợp pháp.
Khung nội dung pháp luật cơ bản bao gồm: đối tượng nộp thuế (dựa trên tiêu chí cư trú), đối tượng chịu thuế, thu nhập miễn thuế, căn cứ tính thuế (thu nhập tính thuế và thuế suất), cùng quy định quản lý, kiểm soát thuế. Tác giả khảo cứu kinh nghiệm pháp luật thuế TNCN tại ba quốc gia tiêu biểu:
| Quốc gia |
Tiêu chí cư trú |
Quy định thu nhập chịu thuế và miễn thuế |
Thuế suất và mức giảm trừ |
| Trung Quốc |
Cư trú: lưu trú tại Trung Quốc hoặc ở từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế. |
Điều 2 Luật Thuế TNCN quy định 09 loại thu nhập chịu thuế; Điều 4 quy định 08 loại thu nhập miễn thuế. |
Thu nhập toàn diện: biểu thuế lũy tiến từ 3% đến 45%; kinh doanh: 5% - 35%; tiền lãi, cổ tức, chuyển nhượng tài sản: 20%. Khấu trừ tiền lương 60.000 NDT/năm; giảm trừ con cái 1.000 NDT/tháng/trẻ, người già tối đa 2.000 NDT/tháng. |
| Hoa Kỳ |
Toàn bộ công dân và người nước ngoài cư trú (theo tiêu chuẩn thời gian, visa). |
Tính thuế trên thu nhập thực tế sau tái đầu tư và chi phí sinh hoạt theo Title 26 USC; miễn trừ người phụ thuộc. |
Biểu thuế lũy tiến liên bang gồm 7 bậc (10%, 12%, 22%, 24%, 32%, 35%, 37%); trúng thưởng xổ số từ 5.000 USD chịu 25%. Thuế bang: 7 bang miễn thuế, 9 bang áp dụng thuế suất phẳng, các bang còn lại lũy tiến 1% - 13,3%. |
| Singapore |
Cư trú: công dân, thường trú nhân hoặc người nước ngoài ở từ 183 ngày trở lên. |
Phân định cư trú và không cư trú cho mục đích thuế; miễn thuế thu nhập dưới 60 ngày làm việc (trừ giám đốc, nghệ sĩ, chuyên gia). |
Biểu thuế lũy tiến cư trú gồm 10 bậc từ 2% đến 22%. Dưới 20.000 SGD/năm miễn thuế hoàn toàn; trên 320.000 SGD chịu 22%. Cá nhân không cư trú (61 - 182 ngày) chịu 15% hoặc biểu lũy tiến. |
Từ kinh nghiệm quốc tế, chương 1 rút ra bốn bài học cho Việt Nam: phân loại nguồn thu nhập để xác định đối tượng chịu thuế; áp dụng hình thức giảm trừ tiêu chuẩn đơn giản, tiết kiệm chi phí hành thu; điều chỉnh biểu thuế và thuế suất hợp lý để hạn chế trốn thuế; và mở rộng diện bao quát nguồn thu phát sinh mới.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng
Chương 2 phân tích chi tiết các quy định thực định và đối chiếu với thực tiễn thực thi. Về đối tượng nộp thuế, Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân xác định theo tiêu chí cư trú:
- Cá nhân cư trú: Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc 12 tháng liên tục; hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam (bao gồm đăng ký thường trú hoặc có hợp đồng thuê nhà để ở từ 183 ngày trở lên). Chịu thuế đối với thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam.
- Cá nhân không cư trú: Người không đáp ứng các điều kiện trên, chỉ chịu thuế đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam.
Về thu nhập chịu thuế và miễn thuế, luật quy định 10 loại thu nhập chịu thuế (kinh doanh, tiền lương - tiền công, đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, bản quyền, nhượng quyền thương mại, thừa kế, quà tặng) và 16 khoản thu nhập miễn thuế (trong đó Luật số 71/2014/QH13 bổ sung miễn thuế cho tiền lương thuyền viên Việt Nam làm việc cho các hãng tàu quốc tế/Việt Nam vận tải quốc tế và thu nhập của chủ tàu, người làm việc trên tàu khai thác hải sản xa bờ).
Về căn cứ tính thuế, pháp luật phân định phương pháp tính giữa hai nhóm đối tượng:
- Đối với cá nhân cư trú: Thu nhập từ kinh doanh chịu thuế theo doanh thu và tỷ lệ ngành nghề (phân phối, cung cấp hàng hóa: 0,5%; dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 2%, riêng cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số: 5%; sản xuất, vận tải, xây dựng có bao thầu: 1,5%; kinh doanh khác: 1%; cá nhân có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống không phải nộp thuế). Thu nhập từ tiền lương, tiền công áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần 7 bậc (5%, 10%, 15%, 20%, 25%, 30%, 35%) sau khi trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc, đóng góp từ thiện và giảm trừ gia cảnh (11 triệu đồng/tháng cho bản thân người nộp thuế, 4,4 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc). Thu nhập đầu tư vốn chịu thuế suất 5%; chuyển nhượng vốn chịu 20%; chuyển nhượng chứng khoán chịu 0,1% trên giá chuyển nhượng; chuyển nhượng bất động sản chịu 2%; trúng thưởng, thừa kế, quà tặng chịu 10% phần vượt trên 10 triệu đồng; bản quyền, nhượng quyền thương mại chịu 5% phần vượt trên 10 triệu đồng.
- Đối với cá nhân không cư trú: Áp dụng thuế suất toàn phần trên doanh thu hoặc thu nhập phát sinh tại Việt Nam không được giảm trừ gia cảnh (kinh doanh: hàng hóa 1%, dịch vụ 5%, sản xuất/vận tải/xây dựng 2%; tiền lương, tiền công: 20%; chuyển nhượng vốn, chứng khoán, bất động sản: 0,1%).
Về quản lý thuế, Luật Quản lý thuế năm 2019, Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và Thông tư số 80/2021/TT-BTC đã quy định rõ: kỳ tính thuế (theo năm hoặc theo từng lần phát sinh); cấp một mã số thuế duy nhất trọn đời cho cá nhân; gia hạn thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế thêm một tháng đối với cá nhân trực tiếp quyết toán; tích hợp thủ tục hoàn thuế vào hồ sơ quyết toán; và thiết lập nghĩa vụ kê khai thuế đối với hoạt động thương mại điện tử, nền tảng số của nhà cung cấp nước ngoài.
Về mặt thực tiễn, khóa luận chỉ ra các kết quả đạt được: Năm 2023 có hơn 10 triệu người nộp thuế được hưởng giảm trừ gia cảnh (chiếm hơn 70% tổng số người nộp thuế). Năm 2021, thực hiện Nghị quyết số 406/2021/UBTVQH15, 55/63 tỉnh thành phố đã miễn, giảm thuế ước tính khoảng 4.765,2 tỷ đồng nhằm tháo gỡ khó khăn do đại dịch Covid-19; số thu thuế TNCN năm 2021 vẫn đạt khoảng 123.000 tỷ đồng (vượt dự toán 14%). Tuy nhiên, chương 2 phân tích ba nhóm bất cập lớn:
- Biểu thuế lũy tiến 7 bậc chưa hợp lý: Khoảng cách thuế suất giữa các bậc hẹp (5%), trong khi thuế suất cao nhất 35% là tương đối cao, tạo áp lực cho nhóm lao động có thu nhập cao và dễ làm phát sinh hành vi trốn thuế, chuyển giá thu nhập.
- Mức giảm trừ gia cảnh cào bằng: Mức 11 triệu đồng/tháng cho người nộp thuế và 4,4 triệu đồng/tháng cho người phụ thuộc áp dụng đồng nhất trên toàn quốc, không phản ánh sự khác biệt về chi phí sinh hoạt giữa các vùng kinh tế và không tương thích với mức lương tối thiểu vùng theo Nghị định số 38/2022/NĐ-CP (chênh lệch 1,44 lần giữa Vùng 1 là 4.680.000 đồng/tháng và Vùng 4 là 3.250.000 đồng/tháng).
- Quy định miễn thuế và ngưỡng chịu thuế của cá nhân kinh doanh còn bất cập: Ngưỡng doanh thu không chịu thuế của cá nhân kinh doanh cố định ở mức 100 triệu đồng/năm là quá thấp so với trượt giá thực tế (các tổ chức như VCCI đề xuất 180 - 200 triệu đồng/năm, Bộ Giao thông Vận tải đề xuất 250 triệu đồng/năm, Hội đồng tư vấn thuế Việt Nam đề xuất 180 - 240 triệu đồng/năm). Quy định miễn thuế chuyển nhượng, thừa kế bất động sản chỉ bao quát quan hệ huyết thống trực hệ hẹp, bỏ sót quan hệ con riêng với bố dượng, mẹ kế, hoặc quan hệ dâu - rể, dẫn đến tình trạng lách luật hoặc phát sinh khiếu nại.
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Chương 3 đề xuất định hướng, kiến nghị lập pháp và giải pháp tổ chức thực hiện.
Về hoàn thiện quy định pháp luật:
- Về thu nhập chịu thuế và miễn thuế: Bổ sung đối tượng được miễn thuế đối với chuyển nhượng, thừa kế bất động sản giữa bố dượng/mẹ kế với con riêng, giữa anh rể/chị dâu với em vợ/em chồng để bảo đảm công bằng thực tế; đồng thời nghiên cứu thu hẹp kẽ hở chuyển nhượng nội bộ gia đình nhằm trốn thuế. Nâng ngưỡng doanh thu không chịu thuế TNCN của cá nhân kinh doanh từ mức 100 triệu đồng/năm lên mức phù hợp (khoảng 180 - 250 triệu đồng/năm) thống nhất với ngưỡng thuế GTGT.
- Về biểu thuế suất: Rút gọn số bậc của biểu thuế lũy tiến từng phần (từ 7 bậc xuống các bậc hợp lý hơn), giãn rộng khoảng cách thu nhập giữa các bậc và nghiên cứu hạ mức thuế suất trần 35% để thu hút lao động trình độ cao.
- Về giảm trừ gia cảnh: Xây dựng cơ chế giảm trừ gia cảnh linh hoạt, phân hóa theo vùng kinh tế dựa trên mức lương tối thiểu vùng và chỉ số giá tiêu dùng (CPI), thay vì áp dụng một mức số tuyệt đối cào bằng trên toàn quốc.
Về giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành:
- Tăng cường biện pháp quản lý thông tin người nộp thuế và kiểm soát chặt chẽ các nguồn thu nhập chịu thuế.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý thuế, đặc biệt đối với kinh doanh thương mại điện tử và dịch vụ số xuyên biên giới.
- Cải cách hệ thống thủ tục hành chính thuế, đơn giản hóa quy trình quyết toán và hoàn thuế điện tử.
- Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm và xử lý nghiêm minh các hành vi trốn thuế, gian lận thuế.
- Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế TNCN nhằm nâng cao ý thức tuân thủ tự nguyện của người dân.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa các chỉ số định lượng và luận chứng thực tiễn về sự bất cập của các định chế thuế TNCN hiện hành tại Việt Nam:
| Chỉ số / Nội dung quy định |
Dữ liệu ghi nhận trong khóa luận |
Nguồn trích xuất trong văn bản |
| Tỷ trọng thuế TNCN trong tổng thu NSNN |
Chiếm khoảng 10,92% tổng thu NSNN các năm 2022 và 2023 |
Báo cáo ngành thuế / Khoản thu NSNN |
| Tăng trưởng số thu so với dự toán |
Năm 2021 vượt dự toán 14% (~123.000 tỷ đồng); năm 2022 vượt dự toán 38% |
Cổng thông tin Bộ Tài chính |
| Tỷ lệ người nộp thuế hưởng giảm trừ gia cảnh |
Hơn 10 triệu người (chiếm >70% tổng số người nộp thuế) năm 2023 |
Tổng cục Thuế |
| Mức miễn, giảm thuế hỗ trợ Covid-19 |
Khoảng 4.765,2 tỷ đồng tại 55/63 tỉnh, thành phố |
Nghị quyết 406/2021/UBTVQH15 |
| Thu nhập bình quân đầu người lao động (2023) |
101,9 triệu đồng/năm (tương đương 8,49 triệu đồng/tháng) |
Báo cáo KT-XH quý IV/2023, Tổng cục Thống kê |
| Tỷ lệ giảm trừ gia cảnh bản thân / Thu nhập bình quân |
Mức 11 triệu đồng/tháng gấp khoảng 1,3 lần thu nhập bình quân |
Tính toán của tác giả dựa trên số liệu Tổng cục Thống kê |
| Lương tối thiểu theo 4 vùng (Nghị định 38/2022/NĐ-CP) |
Vùng 1: 4,68 triệu; Vùng 2: 4,16 triệu; Vùng 3: 3,64 triệu; Vùng 4: 3,25 triệu đồng/tháng (chênh lệch Vùng 1 / Vùng 4 là 1,44 lần) |
Nghị định số 38/2022/NĐ-CP |
| Đề xuất nâng ngưỡng doanh thu kinh doanh không chịu thuế |
VCCI: 180 - 200 triệu; Bộ GTVT: 250 triệu; Hội đồng tư vấn thuế: 180 - 240 triệu đồng/năm (hiện hành: 100 triệu) |
Báo Đại biểu Nhân dân / Ý kiến đóng góp sửa đổi |
Đóng góp khoa học của khóa luận thể hiện ở việc cập nhật toàn diện tác động của bối cảnh kinh tế hậu Covid-19 đối với chính sách thuế TNCN. Tác giả đã chứng minh mâu thuẫn nội tại giữa chính sách giảm trừ gia cảnh mang tính cào bằng với chính sách phân vùng tiền lương tối thiểu của Nhà nước, đồng thời tổng hợp các kiến nghị đa chiều từ cơ quan ban ngành và kinh nghiệm quốc tế để đưa ra định hướng sửa đổi cụ thể cho Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận phân tích thực trạng chủ yếu dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và báo cáo thống kê vĩ mô cấp quốc gia (Tổng cục Thuế, Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính), chưa thực hiện khảo sát xã hội học định lượng sâu trên diện rộng đối với từng nhóm đối tượng người nộp thuế tại các địa phương cụ thể. Ngoài ra, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế dừng lại ở khuôn khổ so sánh pháp luật tĩnh, chưa có điều kiện đánh giá chi tiết chi phí hành thu và tác động kinh tế lượng của các sắc thuế tại nước sở tại.
Hướng mở nghiên cứu tiếp bao gồm việc xây dựng mô hình định lượng cụ thể xác định công thức tính mức giảm trừ gia cảnh gắn trực tiếp với biến động chỉ số CPI và tiền lương tối thiểu theo từng vùng kinh tế; đồng thời nghiên cứu chuyên sâu cơ chế kiểm soát thu nhập đối với các hoạt động kinh tế số xuyên biên giới, tiền mã hóa và tài sản ảo phát sinh trong thực tiễn.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân sách, Quản lý công và Kinh tế học pháp luật. Nghiên cứu cung cấp tài liệu tổng hợp về lịch sử lập pháp thuế thu nhập tại Việt Nam từ năm 1962 đến nay, hệ thống hóa các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế năm 2019 và Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành.
Nội dung đáng giá để tham khảo là Chương 1 với bảng so sánh pháp luật thuế TNCN giữa Trung Quốc, Hoa Kỳ, Singapore, và Chương 2 với các phân tích phản biện sắc bén về mức giảm trừ gia cảnh, bậc thuế lũy tiến và ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ kinh doanh cá thể.
Câu hỏi thường gặp
1. Điều kiện xác định cá nhân cư trú đối với người nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành là gì?
Căn cứ khoản 2 Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân (đã được sửa đổi, bổ sung), cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong hai điều kiện: (i) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; (ii) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn từ 183 ngày trở lên.
2. Điểm bất cập trong quy định miễn thuế TNCN đối với chuyển nhượng, thừa kế bất động sản giữa các thành viên gia đình được tác giả chỉ rõ là gì?
Quy định hiện hành chỉ miễn thuế cho các mối quan hệ huyết thống và hôn nhân trực hệ (vợ - chồng, cha mẹ - con cái, ông bà - cháu, anh chị em ruột), nhưng chưa bao quát các mối quan hệ thực tế như bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng, anh rể với em vợ, chị dâu với em chồng. Điều này dẫn đến sự không công bằng hoặc phát sinh hiện tượng chuyển nhượng bắc cầu vòng qua các thành viên trung gian để lách thuế, làm phức tạp thủ tục hành chính mà vẫn gây thất thu ngân sách.
3. Tại sao tác giả cho rằng mức giảm trừ gia cảnh 11 triệu đồng/tháng hiện nay chưa hợp lý khi so sánh với lương tối thiểu vùng?
Mức giảm trừ gia cảnh 11 triệu đồng/tháng cho bản thân và 4,4 triệu đồng/tháng cho người phụ thuộc được áp dụng cào bằng trên toàn quốc mà không căn cứ vào mức sống tối thiểu từng vùng. Trong khi đó, theo Nghị định số 38/2022/NĐ-CP, mức lương tối thiểu giữa 4 vùng có sự chênh lệch lớn (Vùng 1 đạt 4,68 triệu đồng/tháng, cao gấp 1,44 lần so với Vùng 4 là 3,25 triệu đồng/tháng). Chi phí sinh hoạt tại các đô thị lớn thuộc Vùng 1 cao hơn nhiều so với các vùng khác, khiến mức giảm trừ gia cảnh cố định không còn bảo đảm tính điều tiết công bằng.
4. Khóa luận ghi nhận bài học kinh nghiệm gì từ biểu thuế của Trung Quốc và Singapore cho Việt Nam?
Pháp luật Trung Quốc áp dụng biểu thuế lũy tiến toàn diện với biên độ giãn từ 3% đến 45% kèm các khoản giảm trừ cụ thể cho việc chăm sóc con cái và phụng dưỡng người già. Pháp luật Singapore thiết kế biểu thuế lũy tiến 10 bậc nhưng với mức thuế suất rất thấp (từ 2% đến 22%), miễn thuế cho người có thu nhập dưới 20.000 SGD/năm. Bài học rút ra cho Việt Nam là cần nghiên cứu giãn khoảng cách giữa các bậc thu nhập, đa dạng hóa các khoản chi phí khấu trừ thực tế và cân nhắc hạ thuế suất trần để vừa nuôi dưỡng nguồn thu, vừa khuyến khích lao động có chuyên môn cao.
5. Ngưỡng doanh thu không chịu thuế của cá nhân kinh doanh hiện hành là bao nhiêu và các cơ quan đã đề xuất điều chỉnh thế nào?
Theo Luật số 71/2014/QH13, cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống không thuộc diện chịu thuế TNCN. Khóa luận ghi nhận mức này đã quá lỗi thời trước biến động giá cả; trong quá trình đóng góp ý kiến sửa đổi, VCCI đã đề xuất nâng lên mức 180 - 200 triệu đồng/năm, Hội đồng tư vấn thuế Việt Nam đề xuất mức 180 - 240 triệu đồng/năm, và Bộ Giao thông Vận tải đề xuất nâng lên 250 triệu đồng/năm nhằm bảo đảm tính đồng bộ với ngưỡng thuế GTGT và bảo đảm mức sống thực tế của hộ kinh doanh nhỏ lẻ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Hồng Hạnh đã phân tích toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Dựa trên số liệu thống kê thực tế và nghiên cứu đối chiếu kinh nghiệm lập pháp của Trung Quốc, Hoa Kỳ và Singapore, công trình đã làm rõ các điểm nghẽn về biểu thuế lũy tiến, mức giảm trừ gia cảnh cào bằng và ngưỡng tính thuế của cá nhân kinh doanh. Các kiến nghị sửa đổi quy định thực định và năm nhóm giải pháp quản lý thuế được đề xuất có giá trị tham khảo khoa học, góp phần cung cấp cơ sở cho việc hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam.