Chương I: Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa và pháp luật về giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa Chương lÏ: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa. Thực tiễn thực hiện tại công ty Cô phan banh keo Hai Ha Chương II: Một sé dé xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa CHUONG I: KHAI QUAT CHUNG VE HOP DONG MUA BAN HÀNG HOA VA PHAP LUAT VE GIAO KET, THUC HIEN HOP DONG MUA BAN HANG HOA 1. Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hoa 1. Khai niém hop dong mua ban hang hóa * Dinh nghia hop déng mua ban hang hóa Ngay nay khi dat nude ngay cang phat trién, nén kinh té thay déi từng ngày từng giờ, các hoạt động thương mại giữa các cá nhân, tô chức diễn ra vô cùng sôi nồi trong đó có hoạt động mua bán hàng hóa.
Khi hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra ngày càng sôi nôi, phong phú, yếu tô pháp luật luôn là yếu tố cần thiết giúp ràng buộc trách nhiệm rõ ràng, minh bạch giữa các chủ thê tham gia. Trước hết, ta có thể khăng định hoạt động mua bán hàng hoá được thực hiện thông qua cơ sở pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hoá, trong khi đó, khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá không được định nghĩa cụ thê trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Vậy có thé xay dung khai niém hop đồng mua bán hàng hoá thông qua khái niệm hợp đồng dân sự và khái niệm hoạt động mua bán hàng hoá. Bởi lẽ về bản chất hợp đồng mua bán hàng hoá cũng là một loại hợp đồng dân sự và bên cạnh đó có thêm hoạt động mua bán hàng hóa.
Cụ thê theo Điều 385 Bộ Luật Dân sự năm 2015 “hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc cham dứt quyên và nghĩa vụ dân sự. Và Theo Khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 “#o@f động mua, bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyên sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bản, nhận hàng và quyên sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận ” Từ đó, ta có thê đưa ra khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thoả thuận giữa bên bán và bên mua nhằm thiết lập một quan hệ pháp lý. Theo đó, bên bán có nghĩa vụ chuyên giao quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán và nhận chuyên giao quyền sở hữu hàng hoá. * Đặc điềm hợp đồng mua ban hàng hóa Từ định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa nói trên ta có thê thấy hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất giông như hợp đồng mua bán tài sản và được thê hiện qua một số đặc điềm.
- Thứ nhát, chủ thê của hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân. Một bên chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa phải là thương nhân. Chủ thể còn lại của hợp đồng mua bán hàng hóa là thương nhân hoặc có thể không phải là thương nhân. Bởi lẽ trong quan hệ thương mại, phải có ít nhất một chủ thể là thương nhân — chủ thê chủ yếu, thường xuyên tiến hành hoạt động thương mại trên thị trường và được nhà nước thừa nhận một cách hợp pháp.
Trong khi đó, mua bán hàng hoá là một hoạt động thương mại truyền thống, cô điện, do vậy một bên trong quan hệ này phải có tư cách thương nhân còn chủ thê còn lại thì không bắt buộc. Đê được nhà nước công nhận với tư cách thương nhân, cần đáp ứng những yêu cầu nhất định về vốn, tư cách pháp lý để triển khai hoạt động thương mại thường xuyên, độc lập trên thị trường. Xuất phát từ yêu cầu điều kiện chủ thê của hoạt động thương mại nên các bên chủ thê của hợp đồng mua bán hàng hóa phải là thương nhân hoặc trong một số trường hợp chỉ cần bên bán là thương nhân. Trong quan hệ mua bán hàng hóa thì bên bán phải là thương nhân đề thực hiện công việc bán hàng hóa như một nghề nghiệp và có thu nhập từ việc bán hàng.
Bên mua hàng có thê là thương nhân hoặc không là thương nhân có nhu cầu mua hàng hóa đê bán lại kiếm lời hoặc mua hàng đê đáp ứng các nhu cầu cho công việc, cuộc sống của mình. - Thứ hai, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa. Theo Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mai nam 2005, “hang hóa bao gôm: Tất cả các loại động sản, kề cả động sản hình thành trong tương lai: những vật gắn liên với đất đai”. Qua đó ta thấy khái niệm hàng hóa được mở rộng hơn nham đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới.
Bên cạnh đó, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa phải là những hàng hóa được phép lưu thông và có tính thương mại, nếu các bên giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa bị cấm lưu thông trên thị trường thì hợp đồng mua bán hàng hóa đó sẽ bị vô hiệu. Do vậy, việc xác định hàng hóa là đối tượng mua bán sẽ là một trong những điều kiện ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa. Mặt khác khái niệm hàng hóa tại Luật Thương mại năm 2005 được mở rộng so với Luật giá năm 2013 vừa thê hiện phạm vi điều chỉnh rộng hơn của Luật Thương mại, vừa có ý nghĩa đáp ứng yêu cầu điêu chỉnh pháp luật khi Việt Nam mở cửa và hội nhập kinh tế với các quốc gia trong khu vực và thế giới. - Thứ ba, mục đích chủ yếu của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa là sinh lời.
Đặc điểm này xuất phát và găn liền với đặc điểm về chủ thê chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa lả thương nhân. Theo lý thuyết và trong thực tiễn, thương nhân sẽ thường xuyên thực hiện hoạt động thương mại (trong đó có hoạt động mua bán hàng hóa) với mục đích sinh lợi. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, một bên của hợp đồng mua bán hàng hóa không có mục đích sinh lợi. Những hợp đồng được thiết lập giữa bên không nhằm mục đích sinh lợi với thương nhân thực hiện trên lãnh thô Việt Nam, về nguyên tắc, không chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại trừ khi bên không nhăm mục đích sinh lợi đó lựa chọn áp dụng Luật Thương mại.
- Thứ tư, hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa được thê hiện bảng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thê. Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó. Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa trong nên kinh tế Mua bán hàng hóa là một hoạt động cần thiết, nó đặt nền móng cho quá trình sản xuất kinh doanh của các tô chức, cá nhân sau này. Hàng hóa chính là một tư liệu sản xuất dùng đề tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế.
Khi đó, hợp đồng mua bán hàng hóa trở thành một cầu nối quan trọng giữa các bên tham gia, và đồng thời cũng đóng một vai trò rất lớn đối với đời sông kinh tế xã hội của đất nước. hợp đồng mua bán hàng hóa là căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đôi và chấm dứt quan hệ pháp luật mua — bán hàng hóa trong nền kinh tế. Nó quy định chỉ tiết quyền và nghĩa vụ các bên khi tham gia hợp đồng. Bên bán phải cung cấp hàng hóa đúng thời gian như các bên đã thỏa thuận, chất lượng, số lượng hàng hóa như trong hợp đồng đã thỏa thuận, bên mua cũng phải thực hiện việc thanh toán với thời gian, phương thức đúng như trong hợp đồng.
Chính vì vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa trở thành công cụ. là cơ sở pháp lý để các bên thực hiện theo đúng những gì đã thỏa thuận ban đầu. Trên cơ sở những thỏa thuận đã đạt được, bên bán sẽ xác định cụ thê về hàng hóa mà mình cần cung cấp. Nhờ có hợp đồng mà các thông tin về hàng hóa, các điều khoản sẽ được rõ ràng, đây sẽ là căn cứ đê các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Đồng thời, hợp đồng mua bán hàng hóa còn đảm bảo sự bình đăng của các bên, thê hiện ý chí, nguyện vọng của họ và góp phần hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Thứ hai, nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa liên quan đến hầu hết chế định của Luật Thương mại và là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp trong mua bán. Hợp đồng mua bán hàng hóa là căn cứ giúp cho các doanh nghiệp có cơ sở bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mình khi có tranh chấp xảy ra, đặc biệt là đối với loại hợp đồng này khi đối tượng của hợp đồng có giá trị lớn, và có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng tới hiệu suất sản xuất cũng như lợi nhuận sau này của bên mua. Khi ký kết hợp đồng, các doanh nghiệp không thê lường trước hết mọi tình huống có thể phát sinh trong tương lai, nguyên nhân dẫn đến việc không hoàn thành hoặc thực hiện không đúng những thỏa thuận có thê là khách quan nhưng cũng có thê là chủ quan dẫn đến tranh chấp.
Vì vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp. Khi đó, nó giúp các bên xác định được chủ thể có thâm quyền giải quyết tranh chấp của mình. Hơn nữa, nếu không có hợp đồng. các cơ quan giải quyết tranh chấp khó có thê có bảng chứng thuyết phục về sự thỏa thuận, cam kết của các bên, hỗ trợ các cơ quan giải quyết tranh chấp bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp.
Thứ ba, hợp đồng mua bán hàng hóa là công cụ giúp doanh nghiệp xác định được giá cả hàng hóa, các chỉ phí mà mình phải bỏ ra dé mua bán hàng hóa. Lúc này hợp đồng mua bán hàng hóa vừa giúp cho bên mua tránh được những rủi ro tiềm ấn trong việc tăng giá hàng hóa vừa giúp cho doanh nghiệp kiêm soát tình hình tài chính của mình, từ số vốn đã bỏ ra mua hàng hóa đề có thê đưa ra phương án sản xuất phù hợp nhất.